Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 363/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30-5-2025

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Ngọc Thanh

Bà Nguyễn Thị Bông Hường

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngọc Minh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 08 tháng 05 năm 2025 và ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 852/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 483/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 666/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh C, sinh năm 1996; địa chỉ: Số E L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1989; địa chỉ: Số C Â, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà C có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thanh C trình bày:

Bà và ông Nguyễn Đức T tự nguyện quen biết, tìm hiểu và quyết định kết hôn. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai cưỡng ép, ngăn cản. Bà và ông T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận kết hôn số 182, ngày 25/10/2018). Trong quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cãi vả. Năm 2024 thì vợ chồng không hòa hợp, ông T không lo cho vợ con đầy đủ, vợ chồng cãi vã ông T đánh bà. Nay bà C nhận thấy đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án cho ly hôn với ông Nguyễn Đức T.

Về con chung: Bà C và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Thanh P, sinh ngày 18/02/2019 và Nguyễn Khánh D, sinh ngày 12/6/2023. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Đức T không có lời khai tại Tòa án, vắng mặt khi được triệu tập làm việc, hòa giải và xét xử.

Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Bà C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 15/4/2025.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Đức T; kết quả xác minh của Công an phường P, quận T thể hiện ông T đang thường trú tại địa chỉ số C Â, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông T vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, bà C đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và Giấy chứng nhận kết hôn số 182, ngày 25/10/2018 tại Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì có cơ sở xác định mối quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông T là hợp pháp.

[4] Xét yêu cầu ly hôn của bà C: Căn cứ vào lời khai của bà C, Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng bà C và ông T phát sinh mâu thuẫn nhưng không thể hàn gắn được; vợ chồng đã ly thân, giữa hai người không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Bị đơn là ông T vắng mặt khi được triệu tập làm việc, hòa giải tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa. Qua đó, ông T thể hiện thái độ bỏ mặc kết quả giải quyết của Tòa án, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ những lý do vừa nêu, xét thấy tình trạng hôn nhân của bà C và ông T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về con chung: Bà C và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Thanh P, sinh ngày 18/02/2019 và Nguyễn Khánh D, sinh ngày 12/6/2023. Khi ly hôn, bà C yêu cầu trực tiếp nuôi con. Mặt khác, ông T không đến Tòa và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề nuôi con chung. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 2 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao 02 con chung tên Nguyễn Thanh P, sinh ngày 18/02/2019 và Nguyễn Khánh D, sinh ngày 12/6/2023 cho bà Nguyễn Thị Thanh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi, trẻ đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Tạm hoãn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho ông T do ông C không có yêu cầu.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà C xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng do nguyên đơn là bà C chịu.

[8] Các kiến nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228, 235, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 19, Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh C.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh C được ly hôn với ông Nguyễn Đức T.

Quan hệ hôn nhân của bà C và ông T chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 182, ngày 25/10/2018 do Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà C và ông T không còn giá trị pháp lý.

  1. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Nguyễn Thanh P, sinh ngày 18/02/2019 và Nguyễn Khánh D, sinh ngày 12/6/2023 cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi, trẻ đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình nuôi.

Bà C có quyền yêu cầu ông T cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Bà C cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trường hợp ông T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà C có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

Trong trường hợp bà C không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con chung, ông T hoặc người thân thích, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về phương thức cấp dưỡng: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Nguyễn Đức T do bà Nguyễn Thị Thanh C không yêu cầu.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết;

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Bà C xác định tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  1. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do bà Nguyễn Thị Thanh C chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0045129 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà C đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo: Bà C và ông T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - THADS Q.Tân Phú;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 363/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 363/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BÀ CÚC NỘP ĐƠN KHỞI KIỆN YÊU CẦU LY HÔN VỚI ÔNNG TÀI
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger