Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

QUẬN TÂN PHÚ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 363/2025/DS -ST
Ngày: 23-05-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hải Đăng
  2. Ông Thái Hoàn Xanh

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 05 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 770/2024/TLST-DS ngày 10/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 356/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 573/2025/QĐST-DS ngày 25/4/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S

Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D

Bên nhận ủy quyền: Công ty TNHH MTV quản lý nợ và khai thác tài sản ngân hàng S1 (Công ty S2)

Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Đình L – sinh năm 1998 (Có đơn xin vắng mặt)

Văn bản ủy quyền: số 5978/2024/UQ-TGĐ ngày 17/08/2024

Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Lý Thanh Đ – sinh năm 1986 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số B Q, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/09/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng S1 (Gọi tắt Ngân hàng S1) do ông Nguyễn Đình L là người đại diện theo ủy quyền có lời khai thể hiện:

Ngày 17/05/2019 Ngân hàng S1 và ông Lý Thanh Đ có ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng; Mục đích tiêu dùng cá nhân; Lãi suất là 2.6%/ tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 16.642.800 đồng.

Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ông Đ phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Đ đã thanh toán cho Ngân hàng S1 số tiền 8.172.574 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
  • + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
  • + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
  • + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
  • + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ

Qua nhiều lần làm việc, trao đổi nhắc nợ nhưng ông Đ vẫn không có thiện chí trả nợ. Ông Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng (Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngày 23/08/2020 Ngân hàng S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 14.682.713 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Tính đến ngày 23/05/2025, ông Đ còn nợ các khoản tiền, cụ thể:

  • Nợ gốc:14.682.713 đồng
  • Lãi quá hạn: 33.117.680 đồng
  • Tổng cộng : 47.800.393 đồng

Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 14,682,713 đồng với lãi suất quá hạn là 3.9%/ tháng (2.6%*150%) từ ngày Ngân hàng S1 chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.

Ngân hàng S1 đã nhiều lần làm việc trực tiếp với ông Đ, yêu cầu ông Đ có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn. Đồng thời Ngân hàng S1 tạo điều kiện về thời gian để ông Đ trả nợ. Tuy nhiên ông Đ vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng S1 là vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Tại phiên tòa hôm nay: Ngân hàng S1 do ông Nguyễn Đình L là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Lý Thanh Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và Hợp đồng thẻ tín dụng, xác định đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Do bị đơn cư trú tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

Thời hạn tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về người tham gia tố tụng : Xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Về thu thập chứng cứ : Thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án : Nguyên đơn Ngân hàng S1 khởi kiện yêu cầu ông Lý Thanh Đ trả số tiền vay còn thiếu theo Hợp đồng thẻ tín dụng hai bên đã ký kết cùng với tiền lãi tổng cộng số tiền là 47.800.393 đồng và thanh toán một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Căn cứ yêu cầu khởi kiện, Hợp đồng thẻ tín dụng, lời trình bày của nguyên đơn, chứng cứ thu thập được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện ông Đ có vay tiền của Ngân hàng thông qua hình thức sử dụng tài khoản thẻ tín dụng . Ông Đ có sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán tiền và giao dịch mua hàng hóa nhưng chưa trả lại tiền cho ngân hàng. Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S1.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

    Xét, đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hợp đồng thẻ tín dụng ký ngày 17/05/2019 giữa Ngân hàng S1 với ông Lý Thanh Đ, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Do bị đơn cư trú tại quận T nên Toà án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. Về thủ tục xét xử vắng mặt:

    Nguyên đơn Ngân hàng S1 do ông Nguyễn Đình L là người đại diện theo ủy quyền của có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Lý Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn ông Đ không có mặt để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ. Ông Đ đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ, yêu cầu của phía nguyên đơn Ngân hàng S1 để xem xét giải quyết vụ án.

  1. Về yêu cầu của đương sự:

    Xét, Ngân hàng S1 yêu cầu ông Đ phải thanh toán số tiền còn thiếu là 47.800.393 đồng (Trong đó nợ gốc là 14.682.713 đồng và nợ lãi là 33.117.680 đồng). Thanh toán một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

    Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Hợp đồng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng S1 với ông Đ ký ngày 17/05/2019, thể hiện: Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Đ đã thanh toán cho Ngân hàng S1 số tiền là là 8.172.574 đồng. Ông Đ ngừng thanh toán từ tháng 08/2020, Ngân hàng nhiều lần gửi văn bản nhắc nợ nhưng ông Đ vẫn chưa thanh toán tiếp. Ông Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ được cam kết trong Hợp đồng thẻ tín dụng là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng S1. Căn cứ các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S1 là có cơ sở để chấp nhận.

  2. Về thời hạn thanh toán:

    Xét, Ngân hàng S1 yêu cầu ông Đ thanh toán một lần số tiền nợ gốc và nợ lãi còn thiếu ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

    Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Hợp đồng thẻ tín dụng hai bên ký kết, ông Đ ngừng thanh toán từ tháng 8/2020 đến nay là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ . Căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S1 là có cơ sở để chấp nhận.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S1 được chấp nhận nên bị đơn ông Đ phải chịu án phí trên số nợ phải thanh toán là 47.800.393 đồng x 5% = 2.390.000 đồng

    H lại tiền tạm ứng án phí là 1.006.993 đồng cho Ngân hàng S1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi bổ sung năm 2017);
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S1.

    Buộc ông Lý Thanh Đ có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 số tiền là 47.800.393 đồng (Bốn mươi bảy triệu tám trăm ngàn ba trăm chín mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 14.682.713đồng và nợ lãi là 33.117.680 đồng.

    - Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Từ ngày 24/05/2025 ông Lý Thanh Đ phải chịu lãi suất theo Hợp đồng thẻ tín dụng ký ngày 17/05/2019 cho đến khi thi hành xong các khoản nợ.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

    2.390.000 đồng (Hai triệu ba trăm chín mươi ngàn đồng) ông Lý Thanh Đ phải chịu.

    H lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 số tiền là 1.006.993 đồng (Một triệu không trăm lẻ sáu ngàn chín trăm chín mươi ba đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0040357 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.

    Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Quyền kháng cáo:

    Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM ;
  • - VKSND Q.Tân Phú
  • - Chi cục THA DS Q.Tân Phú;
  • - Các đương sự ;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 363/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 363/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger