|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 363/2024/DS-PT
Ngày: 08 – 08 - 2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Văn Cường.
Các Thẩm phán:
- Bà Phạm Thị Hồng Vân;
- Ông Trần Thanh Tòng.
Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 225/TLPT-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST, ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo và kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 297/2024/QĐ-PT, ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1977; địa chỉ: Số I, đường N, khu phố A, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bị đơn:
- + Chị Lê Thị Nguyệt T, sinh năm 1972; có mặt.
- + Anh Đặng Văn S, sinh năm 1969; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số A, hẻm E, tổ D, đường G, ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
- Người kháng cáo: Chị Lê Thị Nguyệt T bị đơn;
- Kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
- Theo đơn khởi kiện ngày 05-10-2023 bản tự khai và các lời khai tại Tòa án của nguyên đơn anh Nguyễn Thành C trình bày:
Anh và chị Lê Thị Nguyệt T, anh Đặng Văn S có mối quan hệ quen biết qua người quen giới thiệu nên anh có cho chị T, anh S mượn tiền để đáo hạn Ngân hàng, cụ thể như sau:
Ngày 20-7-2023, chị T và anh S mượn số tiền 1.830.000.000 đồng, việc vay mượn có lập Hợp đồng vay tại Phòng C1 ngày 20-7-2023; thời hạn vay là 10 ngày (kể từ ngày 20-7-2023 đến hết ngày 29-7-2023); mục đích vay để đáo hạn ngân hàng; không có thế chấp tài sản đảm bảo; lãi suất vay do hai bên thỏa thuận trên cơ sở theo quy định của pháp luật, (không ghi trong hợp đồng nhưng thống nhất bên ngoài là 20%/năm), vợ chồng anh S, chị T cùng ký tên. Việc giao nhận tiền tại Phòng công chứng Trần Duy L, bằng hai hình thức: giao tiền mặt và chuyển khoản; có lập biên bản giao nhận tiền ngày 20-7-2023.
Đến ngày 29-7-2023, anh S và chị T không trả tiền như đã hẹn nên anh đã đến nhà đòi nhiều lần.
Ngày 25-8-2023, do chị T nói là tài sản của chị T bị dính quy hoạch nên không đủ tài sản vay, cần thêm 01 số tiền để chuộc sổ đất phía sau nhà chị để nhập vô vay, mới đủ tiền trả cho anh nên anh tiếp tục cho chị T, anh S vay số tiền 333.000.000 đồng; chị T có viết Giấy mượn tiền ngày 25-8-2023 và ký tên, thời điểm đó anh S đi vắng nên không có ký tên vào giấy mượn tiền này, sau đó anh yêu cầu anh S ký tên thì anh S không đồng ý ký tên; anh giao tiền mặt cho chị T tại quán bánh canh của chị T và anh S; mục đích vay để đáo hạn ngân hàng; không ghi thời hạn; không có thế chấp tài sản đảm bảo; lãi suất do hai bên thỏa thuận trên cơ sở theo quy định của pháp luật, trong hợp đồng không ghi. Hai bên thỏa thuận khi vay tiền xong sẽ trả lại cho anh. Tổng số nợ gốc hai khoản là 2.163.000.000 đồng.
Tiền lãi: Số tiền 1.830.000.000 đồng ngày 20-7-2023 tính đến ngày 05-10-2023 là 78 ngày, lãi suất 20%/năm = 79.300.000 đồng và số tiền 333.000.000 đồng ngày 25-8-2023 tính đến ngày 05-10-2023 là 42 ngày, lãi suất 20%/năm là 7.770.000 đồng. Tổng cộng là 87.070.000 đồng.
Tổng cộng vốn và lãi là 2.250.070.000 đồng.
Ngày 05-10-2023 anh nộp đơn khởi kiện chị T, anh S số tiền 2.250.070.000 đồng, bao gồm tiền vay vốn gốc 2.163.000.000 đồng và tiền lãi 87.070.000 đồng (tính theo lãi suất thỏa thuận 20%/năm).
Đến ngày 27-10-2023, anh S và chị T đã trả cho anh số tiền 2.000.000.000 đồng; còn nợ 276.506.667 đồng
Ngày 31-10-2023 anh có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện với lý do là ngày 27-10-2023, anh S và chị T đã trả cho anh số tiền 2.000.000.000 đồng; còn nợ 276.506.667 đồng; về phần tiền lãi anh S và chị T chưa trả, cụ thể như sau: Ngày 20-7-2023 vay, ngày 27-10-2023 trả, lãi 20%/năm, số ngày 100 ngày, tiền lãi là 101.666.667 đồng; ngày 25-8-2023 vay, ngày 27-10-2023 trả, lãi
3
20%/năm, số ngày 64 ngày tiền lãi là 11.840 đồng. Tổng cộng tiền lãi là 113.506.667 đồng.
Vậy tổng cộng vốn và lãi là 2.276.506.667 đồng trừ đi số tiền đã trả 2.000.000.000 đồng còn lại 276.506.667 đồng. Nay yêu cầu anh S, chị T có nghĩa vụ trả trả số tiền vốn gốc chưa trả 163.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày 27-10-2023 cho đến ngày xét xử và số tiền lãi chưa trả 113.506.667 đồng.
- Bị đơn chị Lê Thị Nguyệt T trình bày:
Qua quen biết giới thiệu, chị và anh S có vay của anh C số tiền 1.830.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng, thời hạn vay 10 ngày như anh Công trình B; lãi suất hai bên thỏa thuận 1.000.000 đồng/1ngày lãi suất là 5.000 đồng, đối với số tiền chị vay 10 ngày tiền lãi phải trả là 30.000.000 đồng; hai bên không có thế chấp tài sản; hai bên ra phòng công chứng ký tên theo hợp đồng vay tiền không thế chấp ngày 20-7-2023 và có lập biên bản giao nhận tiền ngày 20-7-2023, vợ chồng chị có ký tên vào hợp đồng và biên bản này; anh C giao tiền tại phòng công chứng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng A để trả tiền cho chị và anh S nợ ngân hàng 1.800.000.000 đồng; 30.000.000 đồng là tính cộng tiền lãi nên anh C không có chuyển khoản cũng như không có giao số tiền này cho vợ chồng chị.
Do anh chị cho rằng 10 ngày sau Ngân hàng A sẽ giải ngân nên vợ chồng anh, chị đồng ý vay tiền của anh C để đáo hạn ngân hàng; sau đó, phần đất thế chấp của anh chị tại Ngân hàng A bị vướn quy hoạch nên không thực hiện việc đáo hạn ngân hàng được; vợ chồng anh chị cũng tìm nhiều ngân hàng để thực hiện việc đáo hạn để trả tiền cho anh C, đến ngày 28-9-2023, vợ chồng anh chị vay của Ngân hàng Đ số tiền 2.500.000.000 đồng và chuyển vào tài khoản ngân hàng cho anh C số tiền 2.000.000.000 đồng, vợ chồng anh chị trả số tiền vay gốc 1.830.000.000 đồng nhưng khi chuyển ngân hàng chuyển dư 170.000.000 đồng.
Đối với số tiền 333.000.000 đồng vay ngày 25-8-2023 chị không có vay số tiền này; ngày 25-8-2023, anh C đến quán chị bán bánh canh đọc và yêu cầu chị viết giấy mượn tiền số tiền này; lúc đó, anh S không ở tại quán, anh C la lối kêu chị viết giấy, chị và anh S không vay số tiền này nên chị và anh S không đồng ý trả số tiền vay này; anh C có đến nhà yêu cầu anh S ký tên vào giấy mượn tiền ngày 25-8-2023, anh S không đồng ý ký tên do không có mượn, chị đã trả dư số tiền vay chị và anh S mượn của anh C, hiện tại chị không còn nợ và không còn tiền để trả cho anh C nữa.
- Còn bị đơn Đặng Văn S, tại bản tự khai ngày 15-01-2024 anh Đặng Văn S trình bày:
Ngày 20-7-2023 tại Văn phòng C2 vợ chồng anh có vay tiền của anh Nguyễn Thành C số tiền 1.800.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng A đồng thời cộng thêm 30.000.000 đồng; ngoài ra không có mượn số tiền nào khác nữa.
4
Bản án sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 469; Điều 470 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành C đối với chị Lê Thị Nguyệt T và anh Đặng Văn S. Buộc chị Lê Thị Nguyệt T và anh Đặng Văn S trả cho anh Nguyễn Thành C số tiền 281.620.556 đồng vốn và lãi (trong đó số tiền vốn gốc là 163.000.000 đồng và 118.620.556 đồng tiền lãi).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Theo đơn kháng cáo ngày 14 tháng 6 năm 2024 của bị đơn chị Lê Thị Nguyệt T kháng cáo đối với bản án số 67/2024/DS-ST ngày 16/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nếu chấp nhận yêu cầu khởi kiện thì đề nghị xem xét tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Theo Quyết định kháng nghị số 08/QĐ-VKS-DS ngày 31-5-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Kháng nghị đối với bản án số 67/2024/DS-ST ngày 16/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định lại tiền lãi suất và án phí theo quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát thay đổi kháng nghị đối với số tiền 333.000.000 đồng, yêu cầu xác định với lại suất 10%/tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật D sư.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Chị Thu giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đơn kháng cáo.
- - Nguyên đơn anh C đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- - Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận 01 phần kháng cáo của chị T, chấp nhận kháng nghị của Kiểm sát viên về lãi suất và án phí được sửa đổi tại phiên tòa, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của chị Lê Thị Nguyệt T và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh làm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo, kháng nghị thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của Lê Thị Nguyệt T, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh thấy rằng:
- [2.1] Căn cứ theo Hợp đồng vay tiền ngày 20-7-2023 giữa anh Nguyễn Thành C với anh Đặng Văn S và chị Lê Thị Nguyệt T, số tiền 1.830.000.000 đồng theo Biên bản giao nhận tiền ngày 20-7-2023 và Giấy mượn tiền ngày 25-8-2023 số tiền 333.000.000 đồng do nguyên đơn cung cấp. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T xác định trong hai giấy vay tiền này là do chị ký tên.
- [2.2] Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn xác định chị T, anh S đã trả được số tiền 2.000.000.000 đồng đồng vào ngày 27-10-2023.
Chị T, anh S cho rằng, đã trả đủ số tiền 1.830.000.000 tiền gốc và 170.000.000 đồng tiền lãi = 2.000.000.000 đồng nên không còn nợ số tiền nào khác.
Đối với số tiền 330.000.000 đồng chị T cho rằng do anh C đến quán bán bánh canh của chị đọc và yêu cầu chị viết giấy mượn tiền nhưng chị không vay số tiền này nên không đồng ý trả nợ. Tuy nhiên, chị T không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày rằng chị bị ép buộc kí tên, ngoài ra chị cũng thừa nhận giấy nợ này là do chị tự viết và kí tên nên không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của chị T, xác định chị T có vay số tiền trên.
Sau khi đã cấn trừ số tiền 2.000.000.000 tỷ đồng, xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc là 163.000.000 đồng.
[3] Đối với tiền lãi xác định như sau:
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn cho rằng bị đơn chưa trả số tiền lãi nào cho nguyên đơn và bị đơn cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc có trả lãi.
Đối với tiền lãi của số tiền vay 1.830.000.000 đồng: do nguyên đơn trình bày hai bên thỏa thuận lãi suất là 20%/năm, bị đơn cho rằng lãi suất các bên thỏa thuận là 15%/năm, trong hợp đồng vay thể hiện các bên có thỏa thuận lãi suất theo quy định của pháp luật (nhưng không thể hiện lãi suất cụ thể). Vì vậy, các bên có tranh chấp về lãi suất nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, trường hợp trên được xác định lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ (cụ thể là 10%/năm). Tòa án cấp sơ thẩm xác định mức lãi suất áp dụng trong trường hợp này là
6
20%/năm là không đúng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, kháng nghị của VKS trong trường hợp này là có căn cứ.
Đối với lãi suất của số tiền vay 330.000.000 đồng, trong “Giấy vay tiền” có chữ kí chị T là người vay tiền và có cam kết “sẽ hoàn trả đủ tiền vốn và lãi theo thỏa thuận”. Nguyên đơn xác định lãi các bên thỏa thuận là 20%/năm, bị đơn cho rằng số tiền trên bị đơn bị ép buộc kí nên không xác định được lãi suất. Vì vậy, xác định các bên có thỏa thuận lãi nhưng không xác định được lãi suất nên lãi suất xác định là 10%/năm. Cấp sơ thẩm xác định lãi suất 20%/năm là không chính xác. Viện kiểm sát xác định giấy vay tiền không thời hạn, không thoả thuận lãi suất, đây là hợp đồng không thời hạn, không lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự nên xác định lãi suất kể từ ngày vi phạm nghãi vụ trả nợ là không đúng.
[4] Số tiền bị đơn phải trả được xác định như sau:
Tiền gốc còn nợ: 163.000.000 đồng
[4.1] Tiền lãi:
Số tiền 1.830.000.000 đồng vay ngày 20-7-2023 tính đến ngày 27-10-2023 trả là 3 tháng 7 ngày, lãi suất 10%/năm = 49.111.100 đồng.
Số tiền 333.000.000 đồng vay ngày 25-8-2023 tính đến ngày 27-10-2023 trả là 2 tháng 2 ngày, lãi suất 10%/năm = 5.712.060 đồng.
Số tiền vốn gốc còn lại 163.000.000 đồng (sau khi chị T chuyển trả cho anh C số tiền 2.000.000.000 đồng) từ ngày 27-10-2023 đến ngày 16-5-2024 (xét xử sơ thẩm) là 6 tháng 19 ngày x 0,83 % số tiền là 8.974.236 đồng.
[5] Vì vậy, có căn cứ buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền gốc và lãi là: 226.797.396 đồng.
[6] Từ những phân tích trên chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát được sửa đổi tại phiên tòa, sửa bản án sơ thẩm về lãi suất và án phí.
[7] Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
[8] Về án phí:
- [8.1] Án phí sơ thẩm:
- - Anh Nguyễn Thành C phải chịu số tiền 2.485.463 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu trả tiền lãi số tiền 49.709.271 đồng không được Tòa án chấp nhận.
- - Chị Lê Thị Nguyệt T, anh Đặng Văn S phải chịu 11.339.869 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền anh C khởi kiện được Tòa án chấp nhận.
- [8.2] Án phí phúc thẩm: do kháng cáo của chị T được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên.
7
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Chấp nhận kháng cáo của chị Lê Thị Nguyệt T;
- Sửa Bản án số 67/2024/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, quyết định:
Căn cứ Điều 5, 227, 228 và Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 124, Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 469; Điều 470 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành C đối với chị Lê Thị Nguyệt T và anh Đặng Văn S. Buộc chị Lê Thị Nguyệt T và anh Đặng Văn S trả cho anh Nguyễn Thành C tổng số tiền gốc và lãi là 226.797.396 đồng (trong đó tiền gốc là 163.000.000 đồng và 63.797.396 đồng tiền lãi).
Kể từ ngày tiếp theo của bản án sơ thẩm (ngày 16-5-2024), nếu chị Lê Thị Nguyệt T và anh Đặng Văn S chưa thi hành số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả cho anh C số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Chị Lê Thị Nguyệt T và anh Đặng Văn S phải chịu 11.339.869 đồng.
- - Nguyễn Thành C phải chịu số tiền 2.485.463 đồng. Khấu trừ số tiền án phí anh C đã nộp 6.912.000 đồng theo biên lai thu số: 0002024 ngày 08-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh. Hoàn trả cho anh C số tiền 4.426.537 đồng.
- Án phí phúc thẩm: chị Lê Thị Nguyệt T không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho chị T số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng phúc thẩm theo Biên lai thu số: 0002961 ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hànhtheo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7bvà 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
8
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Cường |
Bản án số 363/2024/DS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 363/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh C khởi kiện yêu cầu anh S, chị T có nghĩa vụ trả trả số tiền vốn gốc chưa trả 163.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày 27-10-2023 cho đến ngày xét xử và số tiền lãi chưa trả 113.506.667 đồng.
