Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 362/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25-9-2024

V/v ly hôn, nuôi con giữa chị Thuý và anh Tiến

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Anh Tuấn

Bà Trần Thị Ánh Tuyết

- Thư ký phiên toà: Ông Chu Trần Khánh Vinh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: bà Lưu Thị Thanh huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý 287/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 58/2024/QÐST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1976; Nơi đăng ký thường trú: Số A đường P, phường C, (địa chỉ cũ phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Số B đường N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Số căn cước công dân [...]. Có mặt

Bị đơn: Anh Vũ Đình T1, sinh năm 1977; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A P, phường C (địa chỉ cũ phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định. Số căn cước công dân [...]. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình đề ngày 25-7-2024, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà nguyên đơn là chị Trần Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Đình T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường C), thành phố N, tỉnh Nam Định ngày 15-3-1999. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, do mâu thuẫn căng thẳng nên đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục nên chị T có nguyện vọng xin được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Minh T2, sinh ngày 07-10-2000 (giới tính: Nữ) và Vũ Đình Ngọc T3, sinh ngày 04-01-2008 (giới tính: Nam). Hiện tại cháu Vũ Minh T2 đã trưởng thành tự lập. Về việc nuôi con: Đối với cháu Vũ Đình Ngọc T3, chị T đề nghị giao Toà án cho anh T1 trực tiếp nuôi con vì hiện tại cháu Vũ Đình Ngọc T3 đang sinh sống cùng với anh Vũ Đình T1.

Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn là anh Vũ Đình T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh T1 không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tuy nhiên tại phiên toà anh T1 có mặt và có quan điểm nhất trí với việc chị T trình bày về điều kiện kết hôn. Về mâu thuẫn vợ chồng anh T1 xác nhận như chị T trình bày: Nay chị T đề nghị ly hôn với anh T1, anh T1 cũng đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh T1 xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Vũ Minh T2, sinh ngày 07-10-2000 (giới tính: Nữ) và Vũ Đình Ngọc T3, sinh ngày 04-01-2008 (giới tính: Nam). Hiện tại cháu Vũ Minh T2 đã trưởng thành tự lập. Về việc nuôi con: Đối với cháu Vũ Đình Ngọc T3, anh T1 nhất trí với đề nghị của chị T, đề nghị Toà án cho anh T1 trực tiếp nuôi cháu Vũ Đình N Tân vi hiện tại cháu T3 đang sinh sống cùng với anh Vũ Đình T1.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng: anh T1 đề nghị vợ chồng tự giải quyết.

3. Tại biên bản thu thập tài liệu, chứng cứ ngày 26-8-2024 tại Tổ dân phố số A phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định xác nhận: Quá trình chung sống của chị T và anh T1 có phát sinh mâu thuẫn còn nguyên nhân cụ thể như thế nào địa phương không nắm rõ. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân. Về con chung: Vợ chồng

chị T và anh T1 có 02 con chung là Vũ Minh T2, sinh ngày 07-10-2000 (giới tính: Nữ) và Vũ Đình Ngọc T3, sinh ngày 04-01-2008 (giới tính: Nam). Cháu T3 hiện tại đang ở cùng với anh T1.

4. Tại biên bản ghi nhận nguyện vọng ngày 09-9-2024 của cháu Vũ Đình Ngọc T3 trình bày nguyện vọng được bố đẻ là Vũ Đình T1 trực tiếp nuôi dưỡng nếu bố mẹ ly hôn.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá:

Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự như sau: Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, quá trình giải quyết vụ án đã không cung cấp bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tuy nhiên tại phiên toà bị đơn đã có mặt và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị T và anh T1.

- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình ghi nhận sự thoả thuận của chị Trần Thị T và anh Vũ Đình T1, giao con Vũ Đình Ngọc T3, sinh ngày 04-01-2008 (giới tính: Nam) cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thoả thuận.

- Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị T và anh T1 không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Nguyên đơn là chị Trần Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Vũ Đình T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T (nay là phường C), thành phố N, tỉnh Nam Định ngày 13-6-1999 nên hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hôn nhân hợp pháp.

[3] Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo chị T trình bày thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay và không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và có nguyện vọng được ly hôn với anh T1. Đối với anh T1, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để viết bản tự khai và không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại phiên tòa anh T1 có mặt và nhất trí ly hôn với chị T. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị T và anh T1 theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về việc nuôi con: Chị T và anh T1 có 02 con chung là Vũ Minh T2, sinh ngày 07-10-2000 (giới tính: Nữ) và Vũ Đình Ngọc T3, sinh ngày 04-01-2008 (giới tính: Nam). Hiện tại cháu Vũ Minh T2 đã trưởng thành tự lập còn cháu Vũ Đình Ngọc T3 đang ở với anh T1. Về việc nuôi con: Chị T nhất trí giao con Vũ Đình Ngọc T3 cho anh T1 trực tiếp nuôi con., đồng thời con chung là cháu Vũ Đình Ngọc T3 cũng có nguyện vọng ở với anh Vũ Đình T1 nếu bố mẹ ly hôn. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình ghi nhận sự thoả thuận của chị T và anh T1, giao con chung là Vũ Đình Ngọc T3 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh T1 tự thoả thuận và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Chị T và anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị T là nguyên đơn trong vụ án nên phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Vũ Đình T1.

  2. Về nuôi con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự như sau:

    Giao con Vũ Đình Ngọc T3, sinh ngày 04-01-2008 (giới tính: Nam) cho anh Vũ Đình T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tự thoả thuận

    Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.

    Người không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) chị T đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002261 ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

  4. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T và anh Vũ Đình T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Cửa Bắc, thành phố Nam Định (ĐKKH ngày 13-6-1999);
  • - VKSND thành phố Nam Định;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Nam Định;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Kim Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 362/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 362/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án hôn nhân giữa chị Thuý và anh Tiến
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger