|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 362/2024/DS-ST
Ngày: 16 - 9 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Xuân Thắng. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Ông Đoàn Văn Rỹ. |
| 2. Bà Thái Thục Hiền. | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Trần Thị Thu Hiền. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: | Bà Hoàng Thị Vân – Kiểm sát viên. |
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 45/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 184/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
- Địa chỉ trụ sở: Số 02 đường Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Thu, sinh năm 1995.
- Địa chỉ liên lạc: Số 326 đường Nguyễn Chí Thanh, Phường 5, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)
- (Giấy uỷ quyền số 587/GUQ-NHNo.10-TH lập ngày 02/8/2022)
- Bị đơn:
- 2.1. Bà Trần Thị Thanh Hương, sinh năm 1962.
- Địa chỉ thường trú: Số 611/14A đường Điện Biên Phủ, Phường 1, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cư trú: Số 70 đường Hưng Phú, Phường 8, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)
- 2.2. Ông Chiêm Văn Hưng, sinh năm 1958.
- Địa chỉ thường trú: Số 106G/7 đường Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cư trú: Số 70 đường Hưng Phú, Phường 8, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Chiêm Mỹ Ngọc, sinh năm 1965.
- 3.2. Ông Lư Văn Nam, sinh năm 1962.
- Địa chỉ: Số 106G/7 đường Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà Ngọc, ông Nam: Ông Vũ Quốc Đạt, sinh năm: 1967.
- Địa chỉ: Số 235 đường Chánh Hưng, Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- (Giấy ủy quyền số công chứng 00010137, quyển số 06/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/6/2023 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Sáu, Thành phố Hồ Chí Minh)
- 3.3. Ông Lư Bội Chánh, sinh năm 1989. (vắng mặt)
- 3.4. Bà Lê Thị Thúy Hằng, sinh năm 1993. (vắng mặt)
- 3.5. Trẻ Lư Vĩnh Tường, sinh năm 2024.
- Người đại diện theo pháp luật của trẻ Tường: Ông Lư Bội Chánh, sinh năm 1989. (vắng mặt)
- Ông Chánh, bà Hằng, trẻ Tường cùng địa chỉ: Số 106G/7 đường Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam có đại diện theo uỷ quyền là bà Nguyễn Thị Thu trình bày:
Ngày 09/01/2020, giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và bà Trần Thị Thanh Hương, ông Chiêm Văn Hưng ký kết Hợp đồng tín dụng số 6420-LAV-202000014 với nội dung:
- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cho bà Trần Thị Thanh Hương, ông Chiêm Văn Hưng vay số tiền 3.000.000.000 (ba tỷ) đồng.
- Phương thức cho vay: Cho vay từng lần.
- Mục đích: Thanh toán tiền nhận chuyển nhượng mua nhà, đất tại địa chỉ số 224/1/8 đường Phạm Văn Chí, Phường 4, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thời hạn cho vay: 240 tháng kể từ ngày nhận nợ lần đầu là ngày 17/01/2020.
- Lãi suất: Mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm ký hợp đồng là 10,5%/năm. Lãi suất tiền vay sẽ theo mức lãi suất do ngân hàng công bố tại thời điểm nhận nợ. Nếu khách hàng nhận nợ từ 02 lần trở lên, lãi suất tiền vay sẽ là mức lãi suất do ngân hàng công bố tại từng thời điểm nhận nợ và được ghi trên báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ; Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
- Phương thức trả nợ: Tiền gốc trả 30.000.000 đồng/quý vào ngày 25 hàng quý, kỳ cuối trả 690.000.000 đồng; Tiền lãi trả ngày 25 hàng tháng trên số tiền theo dư nợ thực tế.
Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, ngày 16/01/2020 giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và bà Chiêm Mỹ Ngọc, ông Lư Văn Nam ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 6420 LCP 2018000005 với nội dung:
- Bà Chiêm Mỹ Ngọc, ông Lư Văn Nam thế chấp cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 39 toạ lạc tại địa chỉ Số 106G/7 đường Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 3885/2008/UB.GCN do Uỷ ban nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2008 cho ông Lư Văn Nam, bà Chiêm Mỹ Ngọc.
- Nghĩa vụ được bảo đảm: Toàn bộ nợ gốc, nợ lãi, các khoản phí, chi phí phát sinh liên quan (nếu có). Trong đó, nợ gốc là 3.000.000.000 đồng.
Tính đến ngày 20/7/2022, tổng dư nợ của bà Trần Thị Thanh Hương, ông Chiêm Văn Hưng là 3.086.732.877 đồng. Trong đó, tiền nợ gốc là 2.820.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 266.414.795 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là 318.082 đồng.
Nguyên đơn đã nhiều lần làm việc, gửi thông báo yêu cầu bà Trần Thị Thanh Hương, ông Chiêm Văn Hưng thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng tuy nhiên bà Hương, ông Hưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của nguyên đơn.
Do đó, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân Quận 8 giải quyết:
- Buộc bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền tạm tính đến ngày 16/9/2024 là 3.684.288.494 (ba tỷ, sáu trăm tám mươi bốn triệu, hai trăm tám mươi tám ngàn, bốn trăm chín mươi bốn) đồng. Trong đó: Tiền nợ gốc là 2.820.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 846.463.562 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là 17.824.932 đồng.
- Buộc bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6420-LAV-202000014 ngày 09/01/2020 kể từ ngày 17/9/2024 cho đến ngày thực tế bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng trả hết tiền nợ gốc cho nguyên đơn.
- Nếu bà Trần Thị Thanh Hương và ông chiêm Văn Hưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản là Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 39 toạ lạc tại địa chỉ: Số 106G/7 đường Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 3885/2008/UB.GCN do Uỷ ban nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2008 cho bà Chiêm Mỹ Ngọc và ông Lư Văn Nam để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà sơ thẩm,
- Nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xin vắng mặt tại phiên toà.
- Bị đơn là bà Trần Thị Thanh Hương, ông Chiêm Văn Hưng, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Chiêm Mỹ Ngọc, ông Lư Văn Nam có Người đại diện theo uỷ quyền là ông Vũ Quốc Đạt, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lư Bội Chánh, bà Lê Thị Thuý Hằng, trẻ Lư Vĩnh Tường (trẻ Tường có Người đại diện theo pháp luật là ông Lư Bội Chánh) đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 184/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024; Giấy triệu tập tham gia phiên toà nhưng các ông/bà Trần Thị Thanh Hương, Chiêm Văn Hưng, Vũ Quốc Đạt, Lư Bội Chánh, Lê Thị Thuý Hằng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng:
- + Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- + Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ những quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ để xem xét giải quyết vụ án.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
- Về tố tụng:
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã cung cấp đầy đủ lời khai cùng các tài liệu, chứng cứ cho Toà án và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.
Bị đơn là bà Trần Thị Thanh Hương, ông Chiêm Văn Hưng, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Chiêm Mỹ Ngọc, ông Lư Văn Nam có Người đại diện theo uỷ quyền là ông Vũ Quốc Đạt, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lư Bội Chánh, bà Lê Thị Thuý Hằng, trẻ Lư Vĩnh Tường (trẻ Tường có Người đại diện theo pháp luật là ông Lư Bội Chánh) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để cung cấp lời khai, chứng cứ, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng.
Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Trần Thị Thanh Hương, ông Chiêm Văn Hưng phải trả tiền nợ gốc, tiền lãi theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng. Đây là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn là bà Trần Thị Thanh Hương, ông Chiêm Văn Hưng cư trú tại Quận 8 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 6420-LAV-202000014 ngày 09/01/2020 và Phụ lục Hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 17/01/2020 giữa nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với bị đơn là bà Trần Thị Thanh Hương, ông Chiêm Văn Hưng thể hiện bà Trần Thị Thanh Hương, ông Chiêm Văn Hưng vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền 3.000.000.000 đồng để thanh toán tiền nhận chuyển nhượng nhà, đất tại địa chỉ số 224/1/8 đường Phạm Văn Chí, Phường 4, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đây là hợp đồng vay tài sản, có kỳ hạn, có thoả thuận lãi suất theo đúng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017. Bà Trần Thị Thanh Hương, ông Chiêm Văn Hưng đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận tại hợp đồng tín dụng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc còn lại là 2.820.000.000 đồng, thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên chấp nhận.
[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ lãi trong hạn tạm tính đến ngày 16/9/2024 là 846.463.562 đồng, tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 16/9/2024 là 17.824.932 đồng và buộc bị đơn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6420-LAV-202000014 ngày 09/01/2020 kể từ ngày 17/9/2024 cho đến ngày thực tế bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng trả hết tiền nợ gốc cho nguyên đơn. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Yêu cầu này của nguyên đơn đã được các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6420-LAV-202000014 ngày 09/01/2020, phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản là Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 39 toạ lạc tại địa chỉ: Số 106G/7 đường Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 3885/2008/UB.GCN do Uỷ ban nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2008 cho bà Chiêm Mỹ Ngọc và ông Lư Văn Nam để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật:
Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 6420 LCP 2018000005 lập ngày 16/01/2020 tại Phòng Công chứng số 2, Thành phố Hồ Chí Minh giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và bà Chiêm Mỹ Ngọc, ông Lư Văn Nam, số công chứng 01235, quyển số 01 – TP/CC-SCC/HĐGD đã đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/01/2020 phù hợp với quy định tại Điều 117, khoản 1 Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ phù hợp với quy định tại Điều 299, Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017, có cơ sở nên chấp nhận. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
[4] Tại phiên toà, ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng phải chịu chi phí tố tụng. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 15.000.000 đồng. Do đó, bị đơn bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền 15.000.000 đồng.
[6] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 117; khoản 1 Điều 119; Điều 157; Điều 158; Điều 299; Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017;
Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ vào Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014),
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
- Buộc bị đơn bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng phải thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền tính đến ngày 16/9/2024 là 3.684.288.494 (ba tỷ, sáu trăm tám mươi bốn triệu, hai trăm tám mươi tám ngàn, bốn trăm chín mươi bốn) đồng. Trong đó: Tiền nợ gốc là 2.820.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 846.463.562 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là 17.824.932 đồng.
Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6420-LAV-202000014 ngày 09/01/2020 kể từ ngày 17/9/2024 cho đến ngày thực tế bị đơn bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng trả hết tiền nợ gốc cho nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
- Trường hợp bị đơn bà Trần Thị Thanh Hương và ông chiêm Văn Hưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản là Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 39 toạ lạc tại địa chỉ: Số 106G/7 đường Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 3885/2008/UB.GCN do Uỷ ban nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2008 cho bà Chiêm Mỹ Ngọc và ông Lư Văn Nam để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bị đơn bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Về Chi phí tố tụng: Bị đơn bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng có nghĩa vụ thanh toán lại cho Nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn bà Trần Thị Thanh Hương và ông Chiêm Văn Hưng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 105.685.770 (một trăm lẻ năm triệu, sáu trăm tám mươi lăm ngàn, bảy trăm bảy mươi) đồng.
Hoàn lại cho Nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 46.867.329 (bốn mươi sáu triệu, tám trăm sáu mươi bảy ngàn, ba trăm hai mươi chín) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2021/0020582 ngày 15/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, bà Trần Thị Thanh Hương, ông Chiêm Văn Hưng, bà Chiêm Mỹ Ngọc, ông Lư Văn Nam, ông Lư Bội Chánh, bà Lê Thị Thuý Hằng, trẻ Lư Vĩnh Tường có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
| Nguyễn Xuân Thắng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thắng |
Bản án số 362/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 362/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn
