|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 362/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09 - 9 - 2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồ Cảnh; bà Bùi Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 281/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 300/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Võ Thị Hoài T, sinh ngày 10/10/1992. Nơi cư trú: xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt.
2. Bị đơn: anh Vương Đình L, sinh ngày 20/8/1991. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: nước ngoài. Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn - chị Võ Thị Hoài T trình bày như sau:
Chị Võ Thị Hoài T và anh Vương Đình L kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An ngày 02 tháng 11 năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc, sau này thì xẩy ra mâu thuẫn thường xuyên, không còn tiếng nói chung. Năm 2019 anh L đi nước ngoài, từ đó vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn do không còn tin tưởng lẫn nhau, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn ngày càng nhiều, tình cảm vợ chồng không còn như trước, căng thẳng không thể kéo dài, không thể hòa giải được. Nay vợ chồng thân ai người đó lo, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Vương Đình L.
Về con chung: chị T, anh L có 01 người con chung là Vương Đình Bình N, sinh ngày 21 tháng 7 năm 2016. Từ khi anh L đi nước ngoài làm ăn, con ở với chị T. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho thân nhân bị đơn (anh Vương Đình L) và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng anh Vương Đình L đều vắng mặt không có lý do.
Chị Võ Thị Hoài T không cung cấp được địa chỉ nơi cứ trú, nơi làm việc hiện nay của anh Vương Đình L. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu thân nhân anh Vương Đình L (bà Võ Thị T1 là mẹ đẻ anh L, trú tại xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn (anh Vương Đình L); yêu cầu bà T1 thông báo cho anh L biết chị Võ Thị Hoài T đang khởi kiện ly hôn anh L và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết; đề nghị anh L gửi lời khai, yêu cầu cho Tòa án. Bà Võ Thị T1 cho biết anh L đang ở Đài Loan và thỉnh thoảng liên lạc với gia đình; anh L đã biết chị Võ Thị Hoài T đang khởi kiện ly hôn anh L và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết, nhưng do anh L không có chỗ cư trú ổn định để cung cấp cho Tòa án; anh L đồng ý ly hôn với chị T.
Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh Vương Đình L liên quan đến giải quyết vụ án trên cũng như không ai cung cấp thông tin về nơi cư trú, làm việc hiện tại của anh L.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Võ Thị Hoài T được ly hôn anh Vương Đình L; giao con chung Vương Đình Bình N, sinh ngày 21 tháng 7 năm 2016 cho chị Võ Thị Hoài T trực tiếp nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: do chị T chưa yêu cầu, nên không xem xét.
- Về án phí: chị Võ Thị Hoài T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng.
[1.1] Về thẩm quyền:
Bị đơn anh Vương Đình L có địa chỉ cư trú tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Anh L hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, nên vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về thủ tục hòa giải: căn cứ khoản 1, 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì hiện nay anh Vương Đình L vắng mặt tại nơi cư trú và đang ở nước ngoài.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn – chị Võ Thị Hoài T đã viết bản tự khai và cung cấp đầy đủ các giấy tờ, tài liệu cho Tòa án, nhưng không thể tham gia phiên tòa được nên đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn - anh Vương Đình L, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Theo Công văn số 3528/XNC(Đ1) ngày 26/8/2024 của Phòng Q - Công an tỉnh N thì anh Vương Đình L xuất cảnh ngày 05/9/2011 qua Cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Chị Võ Thị Hoài T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Vương Đình L tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu bà Võ Thị T1 (mẹ đẻ anh L) cung cấp địa chỉ, tin tức của anh L và thông báo cho anh L biết Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án dân sự về "Tranh chấp hôn nhân và gia đình" theo đơn khởi kiện của chị Võ Thị Hoài T, đề nghị anh L gửi lời khai cho Tòa án. Tuy nhiên, bà T1 không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh L, nhưng đã thông tin và anh L đã biết rõ việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án mà anh L là bị đơn và anh L không có ý kiến gì.
Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng tại Nhà văn hóa xóm A, xã D; tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An là nơi cư trú cuối cùng của anh L trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Việc anh L không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án thể hiện anh L cố tình dấu địa chỉ.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 47/2015 ngày 02/11/2015 của Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa chị Võ Thị Hoài T và anh Vương Đình L là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc, sau thì xẩy ra mâu thuẫn, không còn tiếng nói chung. Năm 2019 anh L đi nước ngoài, mâu thuẫn trở lên trầm trọng do vợ chồng sống xa nhau nhưng không còn tin tưởng lẫn nhau.
Xét thấy: tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị Võ Thị Hoài T và anh Vương Đình L đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị T được ly hôn anh L là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: chị Võ Thị Hoài T và anh Vương Đình L có 01 con chung Vương Đình Bình N, sinh ngày 21 tháng 7 năm 2016. Xét điều kiện hiện tại, cần chấp nhận nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung của nguyên đơn và không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con, do chị T không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở. Anh L có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Võ Thị Hoài T không yêu cầu và anh L cũng chưa có ý kiến, nên miễn xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: chị Võ Thị Hoài T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T2 về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Hoài T.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Võ Thị Hoài T được ly hôn anh Vương Đình L.
- Về con chung:
- Giao con chung Vương Đình Bình N, sinh ngày 21 tháng 7 năm 2016 cho chị Võ Thị Hoài T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: chị Võ Thị Hoài T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0012954 ngày 21/6/2024.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Võ Thị Hoài T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ.
- Anh Vương Đình L đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 362/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 362/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
