|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 362/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-5-2025 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lê Ngọc Thanh
Bà Nguyễn Thị Bông Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngọc Minh - Kiêm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2025 và ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 756/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 484/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 667/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Huỳnh Cẩm P, sinh năm 1987; (có Đơn xin vắng mặt)
- Địa chỉ: A H, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bị đơn: Bà Lâm Thanh Y, sinh năm 1992; (vắng mặt)
- Địa chỉ: 2 N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Huỳnh Cẩm P trình bày:
Ông và bà Lâm Thanh Y quen biết do mai mối, tìm hiểu và quyết định kết hôn. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai cưỡng ép, ngăn cản. Ông và bà Y có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận kết hôn số 96/2023, ngày 03/6/2023). Trong quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng đã ly thân hơn 06 tháng, nay ông P nhận thấy đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án cho ly hôn với bà Lâm Thanh Y.
+ Về con chung: Ông P và bà Y không có con chung.
+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có nợ chung.
Bị đơn bà Lâm Thanh Y trình bày:
Về hôn nhân: Về quá trình kết hôn, chung sống thì bà thống nhất với lời trình bày của ông P. Tuy nhiên, bà không đồng ý ly hôn. Ông P trình bày lý do ly hôn không đúng, ông P là người lấy đồ của bà để vào vali đuổi bà đi khỏi nhà.
Trước đây bà đi làm có thu nhập nhưng ông P yêu cầu bà nghỉ ở nhà, sẽ cho tiền sinh hoạt. Thời gian đầu cuộc sống vẫn bình thường nhưng sau đó ông P khó chịu khi mỗi lần bà xin tiền. Sau đó ông P đuổi bà đi khỏi nhà đòi ly hôn. Bà đã về sinh sống tại nhà cha mẹ ruột ở địa chỉ 2 N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Giữa bà và ông P trong thời gian ly thân không có gặp mặt nói chuyện. Nay ông P đòi ly hôn bà không đồng ý.
+ Về con chung: Bà và ông P không có con chung.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông P không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Huỳnh Cẩm P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
Bị đơn bà Lâm Thanh Y vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền: Ông Huỳnh Cẩm P khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Lâm Thanh Y; kết quả xác minh của Công an phường P, quận T thể hiện bà Y đang thường trú tại địa chỉ số B N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Ông Huỳnh Cẩm P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Bà Lâm Thanh Y đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng; Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và Giấy chứng nhận kết hôn số 96/2023, ngày 03/6/2023 tại Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì có cơ sở xác định mối quan hệ hôn nhân giữa ông P và bà Y là hợp pháp.
[4] Xét yêu cầu ly hôn của ông P:
Căn cứ vào lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của vợ chồng ông P và bà Y là do hai bên bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến mâu thuẫn trong giao tiếp hàng ngày, không thể cảm thông, chia sẽ với nhau. Hai bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tại Bản tự khai ngay 08/5/2025, bà Y trình bày không đồng ý ly hôn nhưng cũng không thể hiện được cụ thể hành động, thái độ thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông P. Tòa án triệu tập bà Y đến Tòa để ghi lời khai, tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham dự phiên tòa, nhưng bà Y vẫn không có mặt. Tại phiên Tòa hôm nay bà Y vẫn vắng mặt không lý do, thể hiện bà Y không quan tâm đến kết quả xin ly hôn của ông P tại Tòa và không thể hiện ý chí mong muốn cải thiện tình cảm vợ chồng để hàn gắn xây dựng hạnh phúc gia đình.
Căn cứ vào kết quả trả lời xác minh tại Ủy ban nhân dân phường H, quận T thì vợ chồng ông P và bà Y hiện không còn chung sống với nhau. Như vậy, kết quả xác minh này phù hợp với lời khai của các đương sự tại Tòa án.
Từ những nhận định vừa nêu, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn gia đình của vợ chồng ông P và bà Y diễn ra đã lâu và ngày càng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc cho ông P được ly hôn với bà Y là có cơ sở để chấp nhận.
Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Cẩm P về việc ly hôn với bà Lâm Thanh Y.
[4] Về con chung: ông P và bà Y xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự: ông P và bà Y xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng do nguyên đơn là ông P chịu.
[7] Các kiến nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228, 235, 238, 264, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 19, Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Cẩm P.
- Về quan hệ hôn nhân: ông Huỳnh Cẩm P được ly hôn với bà Lâm Thanh Y.
- Về con chung: ông P và bà Y xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự: ông P và bà Y xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do ông Huỳnh Cẩm P chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0040366 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông P đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Ông P và bà Y có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền./.
Quan hệ hôn nhân của ông P và bà Y chấm dứt kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 96/2023, ngày 03/6/2023 do Ủy ban nhân dân phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông P và bà Y không còn giá trị pháp lý.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Anh Tuấn |
Bản án số 362/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 362/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ÔNG PHÁT KHỞI KIỆN YÊU CẦU LY HÔN VỚI BÀ YẾN
