|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 362/2025/DS-PT Ngày: 26-6-2025 V/v “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Ngô Tấn Lợi |
| Các Thẩm phán: | Ông Đinh Chí Tâm |
| Ông Nguyễn Chí Dững |
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Ngọc Thanh Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26/5/2025 và ngày 26/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 91/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và hợp đồng tín dụng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 201/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 236/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1949 (có mặt);
- Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1945 (đã chết);
- Bị đơn: Nguyễn Thị Anh T, sinh năm 1978 (có mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1973 (có mặt);
- Nguyễn Nhật Đ1, sinh năm 1976 (vắng mặt);
- Nguyễn Thị Kim Đ2, sinh năm 1977 (vắng mặt);
- Nguyễn Thanh S, sinh năm 1953 (đã chết);
- Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1963;
- Nguyễn Thị Kim E, sinh năm 1957;
- Nguyễn Thanh N2, sinh năm 1965;
- Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960;
- Trần Thị Bích T2, sinh năm 1970 (vắng mặt);
- Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1999 (vắng mặt);
- Nguyễn Quốc V, sinh năm 2003 (vắng mặt);
- Nguyễn Trần Như Ý, sinh năm 2004 (vắng mặt);
- Ngân hàng N3;
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim A là nguyên đơn trong vụ án.
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn Đ gồm: Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1949; Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1973; Anh Nguyễn Nhật Đ1, sinh năm 1975; Chị Nguyễn Thị Kim Đ2, sinh năm 1977;
Cùng địa chỉ: Số A, B, Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số A, T, Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Số A, B, Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Thanh S: Bà Trần Thị H, sinh năm 1956; Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Ông N1, bà Kim E, ông N2 và bà T1 vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ Chi nhánh T5: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thanh P - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn Đ trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa 1667, tờ bản đồ số 02, diện tích 357m² (ngang 8,5m, dài 42m) tọa lạc tại thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp là của ông Võ Văn K chuyển nhượng lại cho cha mẹ bà Kim A là cụ Nguyễn Văn C (đã chết năm 2009) và cụ Võ Thị H1 (đã chết năm 2002) vào năm 1999. Ngày 01/11/2000, cụ H1 có làm Tờ cam kết tặng cho quyền sử dụng (QSD) đất cho vợ chồng bà Kim A, ông Đ và các con gồm Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Nhật Đ1, Nguyễn Thị Kim Đ2. Đến ngày 15/5/2005, cụ C tiếp tục làm Tờ di chúc xác nhận nội dung Tờ cam kết ngày 01/11/2000 của cụ H1 và để lại toàn bộ QSD đất trên cho gia đình bà Kim A và ông Đ. Thời điểm, cụ H1, cụ C chết thì trong hộ gồm có ông Đ, bà Kim A, chị N, anh Đ1 và chị Đ2, ngoài ra không còn ai khác. Gia đình ông Đ và bà Kim A đã cất (xây dựng) nhà ở cấp 4 trên đất từ năm 2000 cho đến nay. Năm 2002, cụ H1 chết, năm 2009 cụ C chết chưa làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế được. Phần đất trên là cụ H1 mua để cho gia đình bà Kim A và ông Đ. Đến tháng 02 năm 2019, bà Nguyễn Thị Anh T có mượn giấy chứng nhận QSD đất trên để làm thủ tục bảo lãnh sang Úc, xong việc sẽ trả lại cho bà Kim A. Sau đó, bà Kim A yêu cầu bà Anh T trả lại giấy chứng nhận QSD đất thì bà Anh T không trả. Bà Kim A có liên hệ chính quyền địa phương thì phát hiện bà Anh T đã tự ý sang tên phần đất trên cho bà Anh T đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
Bà Nguyễn Thị Kim A và và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn Đ yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận Tờ cam kết ngày 01/11/2000 của cụ Võ Thị H1 và Tờ di chúc ngày 15/5/2005 của cụ Nguyễn Văn C có hiệu lực pháp luật. Buộc bà Anh T làm thủ tục sang tên lại cho bà Kim A, ông Đ, chị N, anh Đ1 và chị Đ2 đứng tên giấy chứng nhận QSD thửa đất số 1667, tờ bản đồ số 02, diện tích 357m² (nay thuộc thửa 09, tờ bản đồ số 74, diện tích 235,8m² đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp do bà Anh T đứng tên), đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của nguyên đơn là Tờ cam kết ngày 01/11/2000 (bản chính); Tờ di chúc ngày 15/05/2005 (bản chính).
Bà Kim A thừa nhận chữ ký trong Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 24/9/2018 là do bà Kim A ký tên và ghi họ tên. Đối với bà Nguyễn Thị Thanh T4 chết năm nào thì không nhớ rõ, bà T4 đã ly hôn chồng, có 01 người con tên Nhã P1, chỉ biết đang sinh sống tại Úc, nhưng không rõ địa chỉ cụ thể, gia đình đã không còn liên lạc được. Ngoài ra, hàng thừa kế thứ nhất của cụ H1, cụ C không còn ai khác. Phía nguyên đơn thống nhất với Sơ đồ đo đạc và kết quả định giá của Hội đồng định giá.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Anh T trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa 1667, tờ bản đồ số 02, diện tích 357m² (ngang 8,5m, dài 42m) tọa lạc tại thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp là của cụ Võ Thị H1 và cụ Nguyễn Văn C để lại. Cụ H1 và cụ C là cha mẹ ruột của bà Anh T và bà Kim A. Cụ H1 và cụ C có tổng cộng 08 người con chung là: Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Thị Kim E, Nguyễn Thanh N2, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị Anh T, Nguyễn Thanh L (đã chết). Thời điểm cụ H1, cụ C chết thì trong hộ sinh sống trên phần đất tranh chấp gồm có ông Đ, bà Kim A, chị N, chị Đ2, anh Đ1, ngoài ra không còn ai khác. Khi cha mẹ bà Anh T còn sống có cho gia đình ông Đ và bà Kim A sinh sống trên đất và có hứa cho sinh sống lâu dài nhưng không sang tên. Năm 2002, cụ H1 chết, năm 2009 cụ C chết, ngày 24/9/2018 các anh chị em trong gia đình họp lại lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thống nhất giao phần đất trên cho bà Anh T đứng tên. Sau khi đứng tên giấy chứng nhận QSD đất thì bà Anh T vẫn cho gia đình bà Kim A sinh sống lâu dài trên đất. Đối với Tờ cam kết ngày 01/11/2000 và Tờ di chúc ngày 15/05/2005 mà bà Kim A cung cấp thì bà Anh T không đồng ý.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Kim A và ông Đ thì bà Anh T không đồng ý, vì phần đất trên do cha mẹ để lại và các anh chị em thống nhất làm văn bản để bà Anh T được đứng tên phần đất trên. Ngoài ra, bà Anh T vẫn thực hiện theo ý nguyện của cụ H1 để cho bà Kim A được sống trên đất đến hết đời, không có yêu cầu hộ bà Kim A, ông Đ di dời nhà, tài sản trả đất. Bà Anh T thống nhất với Sơ đồ đo đạc và kết quả định giá của Hội đồng định giá. Đối với căn nhà trên đất tranh chấp là do ông Đ và bà Kim A xây dựng.
Đối với yêu cầu của Ngân hàng N3 chi nhánh huyện T5 chị Anh T thừa nhận có ký Hợp đồng tín dụng số 6505LAV202204891 với Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện T5 (Ngân hàng) để vay số tiền 400.000.000 đồng, mục đích vay vốn kinh doanh mua bán vải, quần áo may sẵn, ngày nhận nợ là ngày 26/12/2022, ngày đến hạn trả nợ là ngày 25/8/2023. Tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp số 78/HĐTC ngày 23/5/2019 là giấy chứng nhận QSD đất số phát hành CP821819, số vào sổ CS09193, diện tích 357m², loại đất ở đô thị, tọa lạc tại thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay, Ngân hàng đã rút đơn khởi kiện, bà Anh T không có ý kiến gì.
Đối với bà Nguyễn Thị Thanh T4 chết năm nào thì không nhớ rõ, bà T4 đã ly hôn chồng, có 01 người con tên Nhã P1, chỉ biết đang sinh sống tại Úc, nhưng không rõ địa chỉ cụ thể, gia đình đã không còn liên lạc được. Ngoài ra, hàng thừa kế thứ nhất của cụ H1, cụ C không còn ai khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Kim N và anh Nguyễn Nhật Đ1 trình bày: Chị N thống nhất với lời trình bày của cha mẹ anh chị là bà Kim A và ông Đ về nguồn gốc đất và việc cụ H1 và cụ C tặng cho. Sau khi cụ H1 và cụ C chết thì bà Anh T mượn giấy chứng nhận QSD đất thửa 1667, tờ bản đồ số 02, diện tích 357m², đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp và tự ý sang tên cho bà Anh T. Chị Kim N đề nghị bà Anh T sang tên lại QSD đất cho bà Kim A và ông Đ. Chị N và anh Đ1 không có yêu cầu được đứng tên giấy chứng nhận QSD đất. Chị N thống nhất với yêu cầu của ông Đ, bà Kim A.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh S (đã chết) có văn bản trình bày ý kiến: Phần đất tranh chấp giữa bà Kim A với bà Anh T trước đó các anh em trong gia đình đã thống nhất cho bà Anh T đứng chủ quyền phần đất tranh chấp. Bà Kim A cũng đồng ý và có ký tên trong văn bản phân chia di sản thừa kế. Ông S đề nghị Toà án giải quyết theo quy định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh N2 và ông Nguyễn Thanh N1 trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa 1667, tờ bản đồ số 02, diện tích 357m² (ngang 8,5m, dài 42m) tọa lạc tại thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp của cụ Võ Thị H1 và cụ Nguyễn Văn C để lại. Cụ H1 và cụ C có tổng cộng 08 người con chung là: Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Thị Kim E, Nguyễn Thanh N2, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị Anh T, Nguyễn Thanh L (đã chết). Năm 2002 cụ H1 chết, năm 2009 cụ C1 chết, ngày 24/9/2018 các anh chị em trong gia đình họp lại lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thống nhất giao phần đất trên cho bà Anh T đứng tên, trong đó có bà Kim A cũng đồng ý giao phần đất trên cho bà Anh T đứng tên.
Nay ông N2 và ông N1 vẫn thống nhất phần đất trên được các anh chị em giao cho bà Anh T đứng tên và không có yêu cầu gì trong vụ án. Nếu sau này bà Anh T giao tài sản lại thì cũng phải giao cho anh chị em đồng sở hữu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện T5 trình bày: Vào ngày 19/5/2022, bà Nguyễn Thị Anh T có ký Hợp đồng tín dụng số 6505LAV202204891 với Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện T5 (còn viết tắt là Ngân hàng) để vay số tiền 400.000.000 đồng, mục đích vay vốn kinh doanh mua bán vải, quần áo may sẵn, ngày nhận nợ là ngày 26/12/2022, ngày đến hạn trả nợ là ngày 25/8/2023. Tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp số 78/HĐTC ngày 23/5/2019 là giấy chứng nhận QSD đất số phát hành CP821819, số vào sổ CS09193, diện tích 357m², loại đất ở đô thị, tọa lạc tại thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Từ khi vay đến nay, bà Anh T chưa trả vốn và lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng xét thấy việc tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Kim A, ông Nguyễn Tấn Đ với bà Nguyễn Thị Anh T có ảnh hưởng đến tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng.
Nay Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện T5 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Anh T trả số tiền vốn vay là 400.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 26/12/2022 đến ngày 22/02/2023, lãi suất theo hợp đồng là 5.496.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 405.496.000đ (Bốn trăm lẻ năm triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng), yêu cầu tiếp tục tính lãi đến khi bà Anh T trả xong nợ. Khi bà Anh T trả xong nợ thì Ngân hàng sẽ trả lại cho bà Anh T giấy chứng nhận QSD đất đã thế chấp.
Ngày 10/01/2024, Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện T5 có đơn xin rút đơn kiện. Do ngày 29/8/2023 bà Anh T đã tất toán nợ hợp đồng số 6505LA202204891 ngày 26/12/2022 tại Ngân hàng, hiện tại không còn dư nợ vay tại Ngân hàng, nên Ngân hàng không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích T2 trình bày: Bà T2 là vợ của ông Nguyễn Thanh L, là mẹ của Nguyễn Quốc T3, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Trần Như Ý. Bà T2 không biết cụ thể về việc thỏa thuận phân chi di sản như thế nào nhưng ông L biết việc thỏa thuận phân chia di sản vì ông L cùng với các anh chị em đi làm văn bản thỏa thuận phân chia di sản. Đối với tranh chấp giữa bà Kim A và bà Anh T thì bà T2 thống nhất với bà Kim A. Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quốc T3, anh Nguyễn Quốc V và Nguyễn Trần Như Ý vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 201/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười (viết tắt là bản án sơ thẩm) đã xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim A và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn Đ (gồm bà Nguyễn Thị Kim A, chị Nguyễn Thị Kim N, anh Nguyễn Nhật Đ1, chị Nguyễn Thị Kim Đ2) về việc yêu cầu công nhận Tờ cam kết ngày 01/11/2000 của cụ Võ Thị H1 và Tờ di chúc ngày 15/5/2005 của cụ Nguyễn Văn C có hiệu lực pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim A và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn Đ (gồm bà Nguyễn Thị Kim A, chị Nguyễn Thị Kim N, anh Nguyễn Nhật Đ1, chị Nguyễn Thị Kim Đ2) về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Anh T làm thủ tục sang tên lại cho bà Nguyễn Thị Kim A, ông Nguyễn Tấn Đ, chị Nguyễn Thị Kim N, anh Nguyễn Nhật Đ1, chị Nguyễn Thị Kim Đ2 đứng tên giấy chứng nhận QSD thửa đất số 1667, tờ bản đồ số 02, diện tích 357m², (thửa mới là 09, tờ bản đồ số 74, diện tích 235,8m² đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do bà Anh T đứng tên).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện T5 về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Anh T trả số tiền vốn vay và lãi.
- Về chi phí tố tụng:
- Về án phí:
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/12/2022 và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ bổ sung ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười; Phụ lục Sơ đồ đo đạc đo vẽ ngày 23/7/2024 của Công ty TNHH D).
Bà Nguyễn Thị Kim A và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn Đ (gồm bà Nguyễn Thị Kim A, chị Nguyễn Thị Kim N, anh Nguyễn Nhật Đ1, chị Nguyễn Thị Kim Đ2) phải chịu chi phí tố tụng tổng cộng là 3.450.000₫ (Ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), đã nộp và chi xong.
Bà Nguyễn Thị Kim A được miễn nộp án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Nguyễn Thị Kim N, chị Nguyễn Thị Kim Đ2, anh Nguyễn Nhật Đ1 phải chịu 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện T5 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.110.000₫ (Mười triệu một trăm mười nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002427, ngày 16/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền, nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm. Ngày 25/9/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết xem xét lại toàn bộ vụ kiện, quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Kim A buộc bà Nguyễn Thị Anh T phải làm thủ tục sang tên lại cho bà Kim A được đứng tên thửa đất số 1667, tờ bản đồ số 02, diện tích 357m² (thửa đất mới là 09, tờ bản đồ số 74, diện tích 235,8m²), đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Đất hiện do bà Nguyễn Thị Anh T đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Kim A. Bởi các căn cứ như: Bà Kim A và chồng bà là ông Nguyễn Tấn Đ đã được cha mẹ bà là cụ Nguyễn Văn C và cụ Võ Thị H1 cho đất tranh chấp, được thể hiện bằng Tờ cam kết ngày 01/11/2000 của cụ H1 và Tờ di chúc ngày 15/5/2005 của cụ C; Hộ bà Kim A đã xây dựng nhà ở ổn định từ năm 2000 cho đến nay; Việc bà Kim A ký tên vào Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 24/9/2018 là do bị bà Anh T lừa dối, vì khi đó bà Anh T nói với bà Kim A là ký cho bà Anh T đứng tên để bà được bảo lãnh sang Úc.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Anh T trình bày: Không thống nhất với kháng cáo và trình bày của bà Kim A. Yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà Anh T chỉ thống nhất để cho bà Kim A được ở (sinh sống) trên đất đến hết đời, không có yêu cầu hộ bà Kim A di dời nhà, tài sản trả đất.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Kim N trình bày: Thống nhất trình bày và kháng cáo của bà Kim A như nêu trên. Yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Kim A.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A thực hiện đúng quy định và hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chấp hành và thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim A; tuyên xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 201/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười (Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm giải quyết vụ án số: 197/PB-VKS-DS ngày 26/6/2025).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười thụ lý và giải quyết sơ thẩm vụ án “Tranh chấp thừa kế QSD đất và hợp đồng tín dụng” là đúng quy định tại khoản 3, 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A không thống nhất bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo. Việc bà Kim A nộp đơn kháng cáo ngày 25/9/2024 là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự: Nguyễn Nhật Đ1, Nguyễn Thị Kim Đ2, Trần Thị Bích T2, Nguyễn Quốc T3, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Trần Như Ý và đại diện hợp pháp của Ngân hàng N3 vắng mặt sau khi được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai; các đương sự: Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Thị Kim E, Nguyễn Thanh N2, Nguyễn Thị T1 vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Đất tranh chấp thửa 1667, tờ bản đồ số 02, diện tích 357m² nay là thửa 09, tờ bản đồ số 74, diện tích 235,8m² đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do bà Nguyễn Thị Anh T đứng tên giấy chứng nhận QSD đất được Sở T6 cấp ngày 18/10/2018 (viết tắt là đất tranh chấp) có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Văn C (chết năm 2009) và cụ Võ Thị H1 (chết năm 2002) để lại. Cụ H1 và cụ C có tổng cộng 08 người con chung là: Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Thị Kim E, Nguyễn Thanh N2, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị Anh T, Nguyễn Thanh L (đã chết). Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A và ông Nguyễn Tấn Đ cho rằng ngày 01/11/2000, cụ H1 có làm Tờ cam kết tặng cho đất tranh chấp cho vợ chồng bà Kim A, ông Đ và các con gồm Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Nhật Đ1, Nguyễn Thị Kim Đ2. Đến ngày 15/5/2005, cụ Nguyễn Văn C tiếp tục làm Tờ di chúc xác nhận nội dung Tờ cam kết ngày 01/11/2000 của cụ H1 và để lại toàn bộ QSD đất trên cho hộ bà Kim A, ông Đ, chị N, chị Đ2, anh Đ1. Gia đình ông Đ và bà Kim A đã cất nhà cấp 4 ở trên đất từ năm 2000 cho đến nay. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận Tờ cam kết ngày 01/11/2000 của cụ Võ Thị H1 và Tờ di chúc ngày 15/5/2005 của cụ Nguyễn Văn C có hiệu lực pháp luật và buộc bà Nguyễn Thị Anh T làm thủ tục sang tên lại cho bà Nguyễn Thị Kim A, ông Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Thị Kim N, Nguyễn Nhật Đ1, Nguyễn Thị Kim Đ2 đứng tên giấy chứng nhận QSD đất. Bị đơn bà Nguyễn Thị Anh T cho rằng thời điểm cụ H1, cụ C còn sống có cho gia đình ông Đ và bà Kim A sinh sống trên đất và có hứa cho sinh sống lâu dài nhưng không sang tên. Sau khi cụ H1, cụ C chết, ngày 24/9/2018 các anh chị em trong gia đình họp lại lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thống nhất giao đất tranh chấp cho bà Anh T đứng tên. Sau khi đứng tên giấy chứng nhận QSD đất thì bà Anh T vẫn cho gia đình bà Kim A sinh sống lâu dài trên đất. Đối với Tờ cam kết ngày 01/11/2000 và Tờ di chúc ngày 15/05/2005 mà bà Kim A cung cấp thì bà Anh T không đồng ý và không thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều này làm phát sinh tranh chấp giữa các đương sự.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim A và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn Đ (gồm bà Nguyễn Thị Kim A, chị Nguyễn Thị Kim N, anh Nguyễn Nhật Đ1, chị Nguyễn Thị Kim Đ2) là có cơ sở. Bởi các căn cứ như sau:
- Đối với Tờ cam kết ngày 01/11/2000 mà nguyên đơn cung cấp thể hiện nội dung cụ H1 đồng ý cho hộ ông Đ được sinh sống trên phần thổ cư do cụ H1 đứng tên. Xét về hình thức và nội dung thì đây không phải là di chúc mà chỉ là cam kết của cụ H1 cho hộ ông Đ gồm 05 nhân khẩu được sinh sống lâu dài trên đất, không thể hiện nội dung để cho hộ ông Đ được thừa kế đối với phần đất trên. Đối với Tờ di chúc ngày 15/5/2005 của cụ C thể hiện cho ông Đ được ở, gìn giữ nơi chôn cất, không được quyền sang bán, được sang tên đứng giấy QSD đất. Xét tại thời điểm cụ C viết di chúc thì cụ H1 đã chết, phần đất trên là tài sản chung của cụ H1 và cụ C, nên cụ C chỉ có quyền lập di chúc đối với phần tài sản mà cụ C được thừa hưởng, nhưng theo nội dung Tờ di chúc trên thì cụ C đã lập di chúc bao gồm toàn bộ phần đất tranh chấp là chưa đúng quy định pháp luật. Mặt khác, theo nội dung di chúc thì cụ C chỉ cho hộ ông Đ được ở trên đất, không được quyền sang bán nhưng lại cho sang tên QSD đất là chưa phù hợp quy định pháp luật, vì khi sang tên QSD đất thì người đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất được thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép bao gồm cả quyền chuyển nhượng. Như vậy, di chúc của cụ C đã vi phạm về nội dung nên không có hiệu lực. Vì vậy, việc Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu công nhận Tờ cam kết ngày 01/11/2000 của cụ H1 và Tờ di chúc ngày 15/5/2005 của cụ C có hiệu lực pháp luật là có căn cứ.
- Đối với yêu cầu của bà Kim A, ông Đ về việc yêu cầu bà Anh T làm thủ tục sang tên đất tranh chấp lại cho bà Kim A, ông Đ, chị N, anh Đ1, chị Đ2 đứng tên giấy chứng nhận QSD đất. Do yêu cầu của bà Kim A, ông Đ về việc công nhận Tờ cam kết ngày 01/11/2000 của cụ H1 và Tờ di chúc ngày 15/5/2005 của cụ C có hiệu lực pháp luật không được chấp nhận như phân tích trên, nên sau khi cụ H1, cụ C chết thì phần đất tranh chấp là di sản thừa kế chưa chia và không có di chúc. Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì ngày 24/9/2018, các anh chị em trong gia đình (các con cụ H1, cụ C) gồm bà Kim A, bà T1, ông S, ông N2, ông L, bà Kim E, ông N1 và bà Anh T đã thống nhất lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế giao đất tranh chấp cho bà Anh T được đứng tên và thừa hưởng, những người còn lại đã thống nhất từ chối nhận di sản. Mặt khác, theo lời khai trình bày của ông S, ông N1, ông N2 thì các anh em trong gia đình đã thống nhất giao di sản là phần đất tranh chấp lại cho bà Anh T đứng tên, trong đó có bà Kim A. Ngoài ra, theo lời khai của bà T2 (vợ ông L) thì biết việc chồng bà T2 là ông Nguyễn Thanh L cùng các anh chị em trong gia đình lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Bà Kim A thừa nhận chữ ký trong Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 24/9/2018 là do bà ký tên và ghi họ tên. Mặc dù bà Kim A cho rằng bị bà A T lừa dối để ký tên vào văn bản trên nhưng bà Kim A không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh bà Anh T có hành vi lừa dối như bà trình bày. Như vậy, không có cơ sở xác định bà Kim A bị lừa dối để ký tên từ chối nhận di sản như bà Kim A trình bày.
- Ngoài ra, theo Biên bản hòa giải ngày 17/9/2020 của UBND thị trấn M thì bà Kim A trình bày chỉ yêu cầu bà Anh T làm tờ giấy cho bà Kim A ở (sinh sống) tới cuối đời của bà và chồng bà vì bà không có chỗ ở, cho thấy bà Kim A đã thừa nhận để cho bà Anh T được đứng tên giấy chứng nhận QSD đất tranh chấp khi các bên hòa giải tại UBND thị trấn M.
Đối với bà Anh T không có yêu cầu hộ bà Kim A di dời nhà, tài sản trả đất tranh chấp, nên Tòa án sơ thẩm không xem xét giải quyết trong vụ án này là phù hợp.
Đối với Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện T5 có yêu cầu bà Nguyễn Thị Anh T trả số tiền vốn vay. Ngày 10/01/2024, Ngân hàng có đơn xin rút đơn khởi kiện, không yêu cầu Toà án giải quyết. Tòa án sơ thẩm đã đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu bà Anh T trả số tiền vốn vay và lãi là phù hợp pháp luật.
[4] Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Hội đồng xét xử xét thấy trình bày của bà Kim A là không có đủ căn cứ, đồng thời bà Kim A cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có cơ sở như đã phân tích trên, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Từ cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim A không được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, do bà Kim A thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên được xét miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim A;
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 201/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Kim A được xét miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Tấn Lợi |
Bản án số 362/2025/DS-PT ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 362/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim A - Nguyễn Thị Anh T
