TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 362/2024/HS-ST
Ngày: 19/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐÓNG ĐA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình
Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai
Bà Dương Tú Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Linh- Thư ký Tòa án nhân dân Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:
Chu Ngọc Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 351/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 363/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Thị Bích H; Sinh ngày 16/02/1978 tại Hà Nội; HKTT: Tổ B cụm C, phường X, quận T, Hà Nội; Chỗ ở: P402. Nhà C tập thể Bưu Điện, ngõ H Chùa L, phường L, quận Đ, Hà Nội; Nghề Nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn V (đã chết); con bà Nguyễn Thị L; Chồng: Mai Doãn T ( đã ly hôn) có 02 con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số: 708 lập ngày 25/08/2024 tại Công an quận Đ; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 09/08/2024 đến ngày 18/08/2024; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người liên quan: Ông Trần Tiến Đ, sinh năm: 1973; HKTT: Thôn S, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 09/8/2024, tổ công tác của Công an phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội phối hợp với Đ2 - Công an quận Đ tiến hành kiểm tra quán nước tại địa chỉ đầu ngõ H Chùa L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Quá trình kiểm tra, phát hiện Đỗ Thị Bích H đang có hành vi bán số lô, số đề cho Trần Tiến Đ (Sinh năm: 1973; HKTT: Thôn S, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang) tại quán nước của H. Cơ quan Công an đã lập biên bản, thu giữ tang vật và đưa các đối tượng liên quan về trụ sở để làm rõ.
Tại cơ quan điều tra, Đỗ Thị Bích H khai nhận: Khoảng từ đầu tháng 8/2024 trở lại đây H bán số lô, số đề cho khách tại quán nước đầu ngõ H Chùa L để kiếm thêm thu nhập.
Về cách thức, H bán số lô đề cho khách trực tiếp đến mua tại quán nước qua tích kê hoặc qua tin nhắn điện thoại. Đối với khách đến mua trực tiếp thì H sẽ ghi lại vào tích kê đưa cho khách và thu tiền từ khách. Đối với khách mua qua tin nhắn điện thoại thì sẽ nhắn tin các số lô đề cùng mức tiền chơi vào số điện thoại 086979380 của H, nếu đồng ý bán thì H sẽ copy lại tin nhắn rồi nhắn lại cho khách kèm chữ “OK” để xác nhận, còn tiền mua số lô đề đó khách sẽ trả sau. Toàn bộ số lô đề bán được trong ngày, H tự tổng hợp để tính thắng thua bằng tiền với khách. Việc trả thưởng, thanh toán tiền thắng thua với khách diễn ra trực tiếp tại quán ngay sau khi có kết quả xổ số hoặc vào ngày hôm sau. Lượng khách mua số lô đề của Hường ngày ít là 5 người, ngày nhiều là 7 người, trung bình khoảng 6 người. Tổng số tiền thực tế thu được từ việc bán số lô đề cho khách ngày nhiều là 10.000.000 đồng, ngày ít là 6.000.000 đồng, trung bình là khoảng 8.000.000 đồng. Các số lô, số đề bán cho khách hàng sẽ được bị cáo tính thắng thua, thanh toán xong sẽ hủy ngay đối với tích kê và xóa tin nhắn trong điện thoại. Quá trình đánh bạc H đã hưởng lợi bất chính số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Tỉ lệ bán, chuyển số lô đề mà bị cáo H thực hiện như sau: Tỉ lệ bán số lô, đề cho khách: Đề x 90%; Xiên x 90%; Lô x 22,5 tức là khách mua 100.000 đồng tiền số đề sẽ thu 90.000 đồng, nếu trúng thưởng thì tiền thưởng gấp 70 lần. Tương tự với các cặp lô xiên khách mua 100.000 đồng thu 90.000 đồng, nếu trúng thưởng căn cứ là lô xiên 2, 3 hay 4 để trả thưởng lần lượt gấp 10, 40, vào 100 lần; Khách mua một điểm lô thu của khách 22.500 đồng, nếu trúng sẽ trả thưởng 80.000 đồng.
Trong ngày 09/08/2024 bị cáo đã bán số lô, số đề cho 04 khách mua trực tiếp và 02 khách mua qua tin nhắn điện thoại. Cơ quan điều tra xác định tổng số tiền bán số lô, số đề trong ngày 09/08/2024 của H là 8.290.000 đồng (Tám triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng).
Đối với Trần Tiến Đ là khách mua số lô đề trực tiếp tại quán nước của H. Tại cơ quan Công an, Trần Tiến Đ khai nhận: Chiều ngày 09/8/2024, Đ có nhu cầu đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề nên đã đi bộ ra quán nước của H mua những số lô, số đề gồm: Lô xiên quay 4 cặp: 98, 05, 50, 01 trị giá 1.100.000 đồng (Hường thu 1.000.000 đồng), H xác nhận trong tin nhắn đối với Đ ký hiệu là “100n”; Bốn số lô: 98, 05, 50, 01 với mỗi số 20 điểm, H ký hiệu là “20đ”, tổng 4 số là 1.800.000 đồng; Bốn số đề 05, 50, 96, 61 với mỗi số 55.000 đồng, H ký hiệu “55n”, tổng 4 số là: 220.000 đồng, H thu của Đ bốn số đề là: 200.000 đồng. Vậy số tiền bị cáo H thu của Đ là 3.120.000 đồng nhưng Đ trả trước 1.200.000 đồng còn nợ lại 1.920.000 đồng. Khi Đ đang đưa số tiền 1.200.000 đồng cho bị cáo H thì bị Cơ quan Công an phát hiện. Cơ quan điều tra xác định tổng số tiền đánh bạc của Trần Tiến Đ trong ngày 09/8/2024 là 3.120.000 đồng (Ba triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).
Ngoài ra, trong ngày 09/08/2024 bị cáo H còn bán số lô, số đề cho 02 khách qua điện thoại và 03 khách đến ghi trực tiếp. Bị cáo bán số lô, số đề cho người sử dụng số điện thoại “0974.596.xxx” lưu trong danh bạ “Thợ Phượng C” và người sử dụng số điện thoại “0879.563.xxx" lưu trong danh bạ “Gội Đầu Viện Sản”. Cả 2 người mua số lô, số đề của bị cáo H đều không biết tên tuổi địa chỉ ở đâu. Quá trình điều tra xác định:
Đối với đối tượng mua số lô đề của H dùng số điện thoại 0974.596.xxx. Qua xác minh xác định, chủ thuê bao là Nguyễn Văn D1 (Sinh năm: 1985; HKTT: Thôn C, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội). Tại cơ quan công an D1 khai: Số điện thoại 0974.596.xxx là của D1 đang sử dụng. Ngày 09/8/2024, D1 đã nhắn tin cho H để mua các số lô, số đề sau: 04 cặp lô xiên 2 với mỗi cặp 20.000 đồng gồm: Xiên.03-86)03-55)13-55)13-86)x20, H đồng ý bán và đã nhắn tin xác nhận. D1 trả 20.000 đồng mỗi cặp nhưng sẽ được tính là mua 22.000 đồng mỗi cặp nếu trúng thưởng. Khi biết H bị cơ quan công an bắt D1 đã xóa toàn bộ tin nhắn. Tại cơ Cơ quan điều tra xác định tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Văn D1 ngày 09/8/2024 là 88.000 đồng (Tám mươi tám nghìn đồng).
Đối với Trần Tiền Đ1 và Nguyễn Văn D1 do số tiền đánh bạc của các đối tượng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an phường L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hai đối tượng trên về hành vi đánh bạc theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ mức phạt 350.000 đồng/ người.
- Đối với đối tượng mua số lô đề của H số điện thoại 0879.563.xxx. Qua xác minh xác định, chủ thuê bao là Nguyễn Thị T2 (Sinh năm: 1972. Trú tại: thôn D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc). Tại cơ quan công an, T2 khai: Số điện thoại 0879.563.xxx Thúy chưa bao giờ sử dụng và cũng không biết ai sử dụng. T2 khai không quen biết ai tên là H sử dụng số điện thoại 0879.563.xxx. T2 khẳng định không biết và không liên quan gì đến vụ án trên. Cơ quan điều tra đã cho Đỗ Thị Bích H nhận dạng qua ảnh đối với Nguyễn Thị T2, H khẳng định không phải là người đã mua số lô đề của H. Do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Ngoài ra đối với 03 khách ghi số lô đề trực tiếp của H bằng hình thức ghi tích kê, H khai là những khách vãng lai không biết họ tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
+ Tang vật thu giữ của bị cáo Đỗ Thị Bích H gồm:
- - 01 (Một) chiếc điện thoại Oppo F9 màu tím, đã qua sử dụng.
- - 03 (Ba) tờ tích kê ngày 09/8/2024.
- - Số tiền mặt 5.770.000 đồng (Năm triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).
+Thu giữ của đối tượng Trần Tiến Đ: 01(một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A54 màu xanh đã qua sử dụng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tại Phòng K1 - Công an thành phố H đối với các mẫu chữ viết thu giữ được nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 6600/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận:
Chữ viết, chữ số trên các mẫu cần giám định 03 tờ tích kê ghi nội dung:
- + L: 010 - 11-12/x50đ/Tc= 4.500n. Ký hiệu: A1
- + Đ: 28 – 17/x11nX2:50.8211n/Tc= 30n. Ký hiệu: A2
- + Đ: 00.18 – 05.03/x11n/T°= 40n. Ký hiệu: A3
với mẫu so sánh là 01 (một) bản tự khai đứng tên Đỗ Thị Bích H, không đề ngày tháng năm (Ký hiệu M).
Kết luận: Chữ viết, chữ số trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A3 với chữ viết, chữ số đứng tên Đỗ Thị Bích H trên mẫu so sánh ký hiệu M là chữ do cùng một người viết ra
Tại bản cáo trạng số 355/CT-VKS ngày 28/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận Đống Đa truy tố Đỗ Thị Bích H về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là phạm tội thành khẩn khai nhận và ăn năn hối cải. Bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, Xử phạt Đỗ Thị Bích H từ 10 đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 20 đến 28 tháng; Tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo và của đối tượng Trần Tiến Đ; Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc 5.770.000 đồng đã thu giữ của bị cáo; buộc bị cáo truy nộp 5.000.000 đồng tiền hưởng lời bất chính; Buộc Trần Tiến Đ truy nộp 1.920.000 đồng tiền đánh bạc. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng như kết luận giám định số 6600/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H... có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 18 giờ 00 ngày 09/08/2024, tại quán nước địa chỉ đầu ngõ H Chùa L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội, Đỗ Thị Bích H đang có hành vi Đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày và bị tổ công tác của Công an phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội phối hợp với Đ2 - Công an quận Đ bắt quả tang. Tổng số tiền Đỗ Thị Bích H đánh bạc trong ngày 09/08/2024 là 8.290.000 đồng (tám triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng). Tại cơ quan điều tra, Đỗ Thị Bích H khai nhận H bắt đầu đánh bạc dưới hình thức bán số lô đề và tự tổng hợp, tính thắng thua bằng tiền cho khách từ khoảng đầu tháng 08/2024 đến ngày 09/08/2024 và đã hưởng lợi bất chính số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Hành vi của bị cáo Đỗ Thị Bích H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Đánh bạc là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác nên pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo biết rõ điều này nhưng vẫn thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô đề và tự tổng hợp, tính thắng thua bằng tiền cho khách từ khoảng đầu tháng 08/2024 đến ngày 09/08/2024 và đã hưởng lợi bất chính số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Hành vi của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn làm ảnh hưởng xấu về an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương Vì vậy, cần phải ra một bản án với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội là cần thiết.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội. Xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự thể hiện sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung bằng tiền. Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Đối với Trần Tiến Đ và Nguyễn Văn D1 mua số lô đề của H. Cơ quan điều tra xác định: Tổng số tiền đánh bạc của Trần Tiến Đ trong ngày 09/8/2024 là 3.120.000 đồng (Ba triệu một trăm hai mươi nghìn đồng); Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Văn D1 ngày 09/8/2024 là 88.000 đồng (Tám mươi tám nghìn đồng). Do số tiền đánh bạc của hai đối tượng Trần Tiến Đ và Nguyễn Văn D1 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an phường L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hai đối tượng trên về hành vi đánh bạc theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ mức phạt 350.000 đồng/ người là có căn cứ.
[6] Về những vấn đề khác: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại Oppo F9 màu tím, đã qua sử dụng bị cáo Đỗ Thị Bích H và 01(một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A54 màu xanh đã qua sử dụng của Trần Tiến Đ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà Nước.
Đối với số tiền mặt 5.770.000 đồng (Năm triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) thu giữ ngày 09/08/2024 của Đỗ Thị Bích H là số tiền đánh bạc nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà Nước.
Số tiền 5.000.000 đồng Đỗ Thị Bích H khai có được do thu lời bất chính bằng việc Đánh bạc nên buộc bị cáo phải truy nộp số tiền này.
Đối với Trần Tiến Đ, tại phiên toà Đ xác nhận số tiền đánh bạc dưới hình thức mua số lô đề của bị cáo H đúng như Cáo trạng đã nêu và xin được nộp lại số tiền đánh bạc là 1.920.000đồng. Vì vậy buộc Trần Tiến Đ truy nộp số tiền này.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo và người liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Từ lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Đỗ Thị Bích H phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Nghị quyết số 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07/09/2022 của Hội đồng thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt: Đỗ Thị Bích H 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời hạn thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ: điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106, điều 136, điều 331, điều 333- Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động điện thoại Oppo màu tím, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong, bị vỡ màn hình. Hiện vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa (Biên bản giao nhận vật chứng số: 55 ngày 13/11/2024).
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 5.770.000 đồng (Năm triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng), theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 11/10/2024 đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Số tài khoản: 3949.0.1049185, tại KBNN quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Buộc Đỗ Thị Bích H truy nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Bình |
8
Bản án số 362/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐÓNG ĐA về vụ án hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 362/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐÓNG ĐA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Bích H phạm tội đánh bạc
