|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 362/2024/HS-ST
Ngày: 16 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Lan.
Bà Trần Thị Hồng Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 277/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 313/2024/QĐXXST-HS ngày 10/6/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 586/2024/HSST-QĐ ngày 25/6/2024, thông báo số 798/2024/TB-TA ngày 04/7/2024, đối với bị cáo:
Vũ Thị T, sinh năm 1985, tại Hưng Yên; nơi thường trú: Tổ F, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 09/12; con ông Vũ Văn B, sinh năm 1963 và bà Vũ Thị T1, sinh năm 1963; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; có chồng Nguyễn Đức Q, sinh năm 1983; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: Ngày 06/3/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/6/2018, đã thực hiện nghĩa vụ đóng án phí hình sự sơ thẩm và hình sự phúc thẩm, chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường dân sự; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 03/11/2023 đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ; có mặt.
- Bị hại:
- Ông Lê Văn T2, sinh năm 1965, địa chỉ: A, tổ F, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; có mặt.
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1978, địa chỉ: I, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Ông Bùi Đức H, sinh năm 1968, địa chỉ: 2, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2022 Vũ Thị T tham gia mua bán chứng khoán và thua lỗ nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản lấy tiền đầu tư chứng khoán tiếp bằng cách tiếp cận với các nhà xưởng, nhà kho trong khu công nghiệp A giả vờ thuê các nhà xưởng sau đó tìm cách bán cho những người có nhu cầu mua nhà xưởng, nhà kho.
Để thực hiện ý định trên khoảng tháng 8/2022 T liên hệ với chị Trần Ngọc Anh V là nhân viên của Công ty Cổ phần S là công ty chuyên về phát triển nhà xưởng, nhà kho cho thuê. Sau khi biết Công ty S có nhà xưởng đang cho công ty G và công ty M thuê (02 nhà xưởng cùng một khuôn viên), trong đó công ty G đang làm thủ tục chấm dứt hợp đồng. T đề nghị chị V cho đi xem nhà xưởng, chị V đã gửi vị trí nhà xưởng để T tự đến xem, khi đi xem nhà xưởng công ty G và công ty M tại đường số A Khu Công Nghiệp A, thành phố B, T đi ngang qua nhà xưởng đang bỏ trống của Công ty Z tại đường số C, Khu Công Nghiệp A, thành phố B, Công ty P1 tại đường số G, Khu Công nghiệp A thành phố B (không có bảo vệ) T đã chủ động làm quen với bảo vệ và nói muốn thuê lại nhà xưởng với mục đích khi tìm được người mua nhà xưởng T sẽ thuận lợi khi đưa khách đi xem.
Sau khi biết vị trí các nhà xưởng T liên hệ với anh Lê P và ông Lê Văn T2 là cha của P làm nghề tháo dỡ nhà xưởng. T đề nghị anh P đi cùng T xem nhà xưởng của Công ty Z để P báo giá tháo dỡ. Sau khi xem P báo chi phí tháo dỡ là 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng).
Đến tối ngày 21/8/2022 P cùng ông T2 đến gặp T để thỏa thuận việc tháo dỡ nhà xưởng công ty M. Quá trình trao đổi T nói với ông T2 các nhà xưởng trên T đã mua lại và đề nghị ông T2 góp tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) cùng với T để tháo dỡ nhà xưởng bán sau đó chia lợi nhuận ông T2 yêu cầu T dẫn đi xem nhà xưởng trước khi quyết định.
Do không đủ tiền lên ông T2 có rủ bạn là ông Nguyễn Văn K và ông Bùi Đức H cùng hùn tiền để làm ăn với T. Khoảng 08 giờ ngày 22/8/2022 T đưa ông T2 và ông K đi xem nhà xưởng của công ty M và nhà xưởng công ty Z. Sau khi xem xong T đề nghị bán nhà xưởng công ty M với giá 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng) và nhà xưởng công ty Z giá 250.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Sau khi bàn bạc ông T2, ông K và ông Hiệp đồng ý mua hai nhà xưởng trên và chuyển trước cho T số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).
Sáng ngày 23/8/2022 T đưa ông T2, ông K và ông H đi xem nhà xưởng Công ty P1. Sau khi xem T đề nghị bán nhà xưởng Công ty P1 cho nhóm của ông T2, ông K và ông H với giá 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng), ông T2, ông K và ông Hiệp đồng ý. Đến khoảng 15 giờ ngày 25/8/2022 T yêu cầu ông T2 đưa trước số tiền 50.000.000đ tiền mua nhà xưởng công ty P1. Do chưa đủ tiền nên ông T2 chuyển cho T số tiền 30.000.000đ. Khoảng 09 giờ, ngày 27/8/2022 ông Kim c cho T số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) là tiền đặt cọc trả trước mua 03 nhà xưởng do T bán. Tổng số tiền mà nhóm ông T2, K và ông H đã chuyển cho thủy để mua nhà xưởng là 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng). Sau khi chuyển tiền ông T2 yêu cầu T ký hợp đồng và bàn giao nhà xưởng nhưng T không thực hiện, ngày 06/9/2022 T cắt toàn bộ liên lạc với nhóm của ông T2. Không liên lạc được với T ông T2 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai trình báo.
- Vật chứng vụ án gồm: Số tiền 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) của nhóm ông T2, ông K và ông H bị T chiếm đoạt, sau khi chiếm đoạt T đã sử dụng cá nhân hết.
- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa các bị hại ông T2, ông K, ông H đều thừa nhận số tiền 450.000.000 đồng là tiền của K, ông Kim c1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 250.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 287/CT-VKS-BH ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Vũ Thị T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” điểm a theo khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
- Về trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 10 năm tù.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Từ khoảng ngày 21/8/2022 đến ngày 27/8/2022 Vũ Thị T không phải là chủ sở hữu, không có quyền bán các nhà xưởng của các Công ty M, Công ty Z và Công ty P1 tại Khu Công nghiệp A nhưng T đã cung cấp thông tin gian dối để bán 03 nhà xưởng nêu trên cho ông Lê Văn T2, Nguyễn Văn K và Bùi Đức H chiếm đoạt số tiền 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).
Với hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
- - Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội 02 lần trở lên; Tái phạm theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa các bị hại ông T2, ông K, ông H đều thừa nhận số tiền 450.000.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt là tiền của K. Ông Kim c1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 250.000.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông K. Do vậy, cần buộc bị cáo bồi thường cho ông K số tiền 250.000.000 đồng.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Vũ Thị T phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn K số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Thị T 09 (C) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/11/2023.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Học |
Bản án số 362/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 362/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
