|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 362/2024/HS-PT Ngày: 20 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Minh
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 và 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 588/2023/TLPT - HS, ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Lien Yu T và bị cáo Chang Min H.
Do kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 305/2023/HS – ST ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Lien Yu T, sinh năm 1995 tại Đài Loan; Thường trú: Số G đường C, Khu T, thành phố Đ, Đài Loan; Tạm trú: Căn hộ C10.03 chung cư M, M, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Giám đốc sản xuất; trình độ học vấn: Tốt nghiệp đại học; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Đài Loan; Con ông Lien Yen L và bà Wang Hung H1; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt giam từ ngày 22/11/2022 (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lien Yu T:
Luật sư Lê Nguyễn Quỳnh T1, Văn phòng L4 – Đoàn luật sư Thành phố H. (có mặt)
Địa chỉ: Tầng H, Tòa nhà S - số A C, phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Chang Min H2, sinh năm 1981 tại Đài Loan; Thường trú: Lầu D số C đường N, khu T, thành phố Đ, Đài Loan; Tạm trú: Căn hộ H Block M, khu S, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Sửa chữa nội thất; trình độ học vấn: Tốt nghiệp đại học; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Đài Loan; Con ông Chang Cheng Y và không rõ mẹ; hoàn cảnh gia đình: Có vợ là Nghiêm Ngọc P và 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt giam từ ngày 22/11/2022 (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Chang Min H3:
-
Bà Trần Thị Ngân H4 và bà Ngô Thị Huệ M thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (vắng mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: Phòng G - B T N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Đặng Kim C, luật sư của Công ty L5 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
-
Bà Nguyễn Thị Huyền T2, luật sư của Công ty L5 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
Địa chỉ: Tầng I, khu P - số A đường S, X Hà Nội, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người phiên dịch cho các bị cáo: Bà Nguyễn Thanh Bảo N (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 23 giờ 50 phút, ngày 22/11/2022, Tổ công tác Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính căn hộ C10.03, M, M, Khu phố F, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do L6 là người quản lý, sử dụng căn hộ. Lúc này, ngoài Lien Y còn có 07 người khác gồm: Chang M, Nguyễn Thị Lan A, Lê Thị Thúy N1, Nguyễn Hồng Nhã P1, Trần Thị L1, Luyện D và Lý Cao N2 đang ở trong căn hộ.
Kết quả kiểm tra, Tổ công tác phát hiện thu giữ trên bàn ăn có: 01 thẻ nhựa có ghi tên Luyện Dự T3, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 VNĐ, 01 ống hút nhựa, 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, khối lượng 1,2682 gam loại Ketamine, tại bàn tivi có 01 đĩa sứ màu trắng trên có chứa chất tinh thể không màu, khối lượng 0,8177 gam loại Ketamine (Kết luận giám định số 6923/KLGĐ-H ngày 01/12/2022 của Phòng K, Công an Thành phố H).
Sau đó, Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với Lien Yu T, Chang M và Nguyễn Thị Lan A đồng thời tiến hành xét nghiệm chất ma túy. Kết quả Chang Min H3, Lien Y và Nguyễn Thị Lan A dương tính với loại ma túy Ketamine; Lê Thị Thúy N1, Trần Thị L1, Nguyễn Hồng Nhã P1 và L2 Dự Tường âm tính với ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã giải tỏa cho về. Đối với Lý Cao N2 có kết quả “dương tính” với THC. N2 khai trước đó 02 ngày khi đi chơi cùng bạn tại 01 quán bar ở Quận A được 01 người bạn (không rõ lai lịch) mời sử dụng cần sa, bồ đà. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Q đã bàn giao đối tượng cho Công an phường T, Quận G để xử lý .
Lúc 16 giờ 30 phút, ngày 25/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Q khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lien Y tại căn hộ C, M, M, Khu phố F, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả không phát hiện thu giữ thêm đồ vật tài liệu có liên quan đến ma túy.
Quá trình điều tra L6 khai nhận: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 22/11/2022, T gọi cho bạn là Chang Min H3 đến căn hộ chơi. Lúc này, trong nhà Lien Yu T còn có Lê Thị Thúy N1 là bạn gái của T.Tại đây Lien Yu T, Chang M và Lê Thị Thúy N1 ăn uống, nói chuyện và sử dụng bóng cười. Đến chiều cùng ngày, Lien Y có rủ thêm Luyện Dự T3 và Lý Cao N2 đến chơi bóng cười, đồng thời Lien Yu Ting cũng bảo Chang M1 H3 rủ thêm bạn gái đến chơi cho vui. Sau đó, Chang Min H rủ bạn gái Nguyễn Thị Lan A đến chơi cùng thì Lan A đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày Lý Cao N2, Trần Thị L1 và Nguyễn Thị Lan A cùng đến nơi nên Chang M1 Hsiu xuống sảnh chung cư đón mọi người lên căn hộ của Lien Y. Tại đây, L3 Yu Ting lấy bóng cười cho mọi người cùng sử dụng. Trong quá trình chơi tại đây, Chang Min H thấy tại tủ tivi trong phòng có sẵn 01 đĩa màu trắng, bên trong có một ít ma túy Ketamine, 01 thẻ nhựa ghi tên Luyen Du T4, 01 tờ tiền 1000 đồng và 01 ống hút nhựa dùng để sử dụng ma túy nên đã lấy mời Nguyễn Thị Lan A sử dụng thì Lan A đồng ý. Lan A lấy đĩa ma túy, dùng thẻ nhựa cà nhuyễn rồi dùng ống hút nhựa để sử dụng hết số ma túy trên đĩa. Sau khi Lan A sử dụng hết ma túy, Chang Min H nhờ Lan A tìm mua ma túy để tiếp tục sử dụng, tiền mua ma túy do Chang M1 Hsiu trả thì Lan A đồng ý. Sau đó, Lan A sử dụng điện thoại lên mạng xã hội T5 vào nhóm “Phốt Sài G – Hà Nội Queen” đặt mua nửa hộp 5 Ketamine (2,5 gam Ketamine) giao đến chung cư M. Một lát sau, thì có người (không rõ lai lịch) liên lạc qua ứng dụng T5 cho Lan A để bán 2,5 gam Ketamine với giá 2.900.000 đồng, thì Lan A đồng ý. Sau đó, người bán cho Lan A số tài khoản 2266869999999 Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (MB) để chuyển khoản tiền thì Lan A đưa số tài khoản này cho C2 để trả tiền mua ma túy. Lúc này, Chang Min H3 đã sử dụng tài khoản ngân hàng A1 số 70103579 của C2 chuyển khoản số tiền 2.900.000 đồng cho người bán ma túy. Một lúc sau, có 01 người thanh niên (không rõ lai lịch) đem ma túy đến giao cho Nguyễn Thị Lan A tại trước chung cư M – M6. Nhận được ma túy, Lan A đem lên căn hộ C10.03 đổ một nửa ma túy ra đĩa sứ, số ma túy còn lại Lan A vẫn để trong túi nylon và để trên bàn ăn. Sau đó, Lan A dùng thẻ nhựa cà nhuyễn ma túy trên đĩa và đưa cho Chang Min H3 và Lien Y sử dụng. Chang Min H dùng thẻ nhựa trên đĩa chia ma túy thành đường rồi dùng ống hút nhựa để hút trực tiếp vào mũi rồi đưa đĩa ma túy lại cho Lan A. Lúc này, Lan A tiếp tục chuyền đĩa ma túy cho L3 Yu Ting nhưng Lien Y chưa sử dụng nên đưa lại cho Lan A để lên kệ tivi. Những người còn lại cũng chỉ sử dụng bóng cười và không sử dụng ma túy. Riêng Nguyễn Thị Lan A do trước đó đã sử dụng ma túy rồi nên không sử dụng nữa. Sau đó, cả nhóm tiếp tục uống rượu và sử dụng bóng cười, một lát sau lần lượt có thêm Luyện Dự T3 và Nguyễn Hồng N3 P1 đến chơi cùng nhưng không sử dụng ma túy. Đến 23 giờ 50 phút, ngày 22/11/2022 Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính thì phát hiện số ma túy còn lại trên đĩa và gói ma túy để trên bàn ăn nên đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang như đã nêu trên.
Về số ma túy có sẵn trong căn hộ C10.03, M, M khu phố F, phường T, Quận G mà Nguyễn Thị Lan A sử dụng hết, Lien Y khai: Ngày 18/11/2022, L6 có mời 04 người bạn ngoài xã hội đến nhà chơi. Tại đây, mọi người chỉ uống rượu và sử dụng bóng cười, tuy nhiên khi đó 01 người bạn trong nhóm (mang quốc tịch Mỹ, không rõ lai lịch) đã lấy ma túy ra sử dụng một mình và còn dư để lại tại căn hộ của Lien Y.
Chang Min H khai nhận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 22/11/2022 được Ting rủ đến căn hộ C M, Quận G chơi và sau khi vào căn hộ của T, H có rủ thêm bạn gái Nguyễn Thị Lan A đến căn hộ T chơi, tại đây H đã lấy ma túy có sẵn trong phòng khách để trên bàn T6 và đưa cho Lan A sử dụng hết, khi thấy hết ma túy H là người tự chủ động nói Lan A đặt mua ma túy, việc mua ma túy này H không có bàn bạc thỏa thuận với ai. Sau khi Lan A liên hệ đặt mua xong mang ma túy đưa về căn hộ của T, H thanh toán chuyển khoản cho người bán ma túy số tiền 2.900.000 đồng và H đã sử dụng ma túy tại căn hộ trên, tại biên bản bắt người phạm tội quả tang H khai là số ma túy này T cũng tham gia sử dụng chung. Số lượng ma túy bị thu giữ là số ma túy Hsiu nhờ Lan A mua giúp còn lại chưa sử dụng hết.
Nguyễn Thị Lan A khai nhận phù hợp lời khai của Chang Min H. Đồng thời theo yêu cầu của H cần mua ma túy Lan A đặt mua ma túy và H trả tiền mua ma túy, khi liên hệ mua được ma túy Lan A đưa ma túy cho H và T sử dụng tại căn hộ trên (Biên bản quả tang H và Lan A khai khẳng định số ma túy của H có 02 người sử dụng H và T còn Lan A không sử dụng ma túy này). Số lượng ma túy bị thu giữ là số ma túy Hsiu nhờ Lan A mua giúp còn lại chưa sử dụng hết.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 305/2023/HS –ST ngày 30/6/2023 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
-
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo L6 (năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2022.
-
Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Chang M1 Hsiu 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo C1 Min Hsiu phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2022.
Ngoài ra bản án tuyên về án phí, xử lý vật chứng, quyền kháng cáo cũng như quyết định hình phạt với bị cáo Nguyễn Thị Lan A.
Ngày 05 tháng 7 năm 2023, bị cáo Chang Min H3 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Hình phạt của bản án sơ thẩm quá nặng, gia đình khó khăn, sức khỏe của cha bị cáo không tốt.
Ngày 07 tháng 7 năm 2023, bị cáo L3 Yu Ting có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Hình phạt của bản án sơ thẩm quá nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm hai bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày quan điểm: Qua xem xét toàn bộ nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét thấy bản án sơ thẩm xét xử Lien Yu Ting bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và bị cáo Chang Minh H5 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249; Khoản 1 Điều 255 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt với lý do cha mẹ đã lớn tuổi, là lao động chính trong gia đình. Xét thấy, các tình tiết giảm nhẹ bị cáo đưa ra tại phiên tòa đã được cấp sơ thẩm xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Luật sư Lê Nguyễn Quỳnh T1 bào chữa cho cho bị cáo L3 Yu Ting trình bày: Luật sư thống nhất về tội danh, điều, khoản Bộ luật hình sự áp dụng cho bị cáo T. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt với các lý do: cấp sơ thẩm chưa xem xét đến tình tiết “ăn năn hối cải” của bị cáo; Bị cáo có nơi cư trú tại Việt Nam, nhất thời phạm tội, được nhiều giấy khen về việc đóng góp thiện nguyện, bị cáo là người nước ngoài nên nhận thức pháp luật Việt Nam còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo
Luật sư Đặng Kim C bào chữa cho bị cáo C2 trình bày: Luật sư đồng ý về tội danh tuy nhiên đề nghị được xem xét các tình tiết giảm nhẹ như sau: Bị cáo đang có vợ, con người Việt Nam, có đơn xác nhận là lao động chính trong gia đình, có con còn nhỏ cần cha mẹ chăm sóc, là công dân Đài Loan nên theo luật Phòng chống tác hại ma túy của Đài Loan hiện hành với số lượng ma túy thu giữ bị cáo không phạm tội nên cần áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm m khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo dưới khởi điểm của khung hình phạt.
Luật sư Nguyễn Thị Huyền T2 bào chữa cho bị cáo C2 phát biểu ý kiến: Hành vi phạm tội của bị cáo cần coi là lạc hậu về kiến thức pháp luật để áp dụng điểm m khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo và cho bị cáo hưởng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Đơn kháng cáo của các bị cáo nộp trong hạn luật định, về hình thức được xem là hợp lệ nên được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
-
Xét nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Lien Y và Chang M nhìn nhận hành vi phạm tội của bản thân như Bản kết luận điều tra, Cáo trạng và Bản án sơ thẩm quy kết, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Với hành phạm tội như phần nội dung vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cấp sơ thẩm quy kết bị cáo L3 Yu Ting phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và bị cáo Chang M1 Hsiu phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Các bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước Cộng hòa xã hội C3 về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.
Khi quết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét đến tình tiết tặng nặng các bị cáo không phải chịu. Tình tiết giảm nhẹ áp dụng cho các bị cáo: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; lần đầu phạm tội, nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lien Yu T được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, từ đó cho bị cáo L3 Yu Ting được áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để tuyên xử dưới mức khởi điểm của khung hình phạt.
-
Tuy nhiên, trong vụ án này các hai bị cáo là người Đài Loan (Trung Quốc) tại phiên tòa phúc thẩm luật sư bào chữa cho các bị cáo cung cấp “Đạo luật phòng chống tác hại ma túy” của Trung Hoa D (Đài Loan). Theo đó có sự khác biệt pháp luật hai nước, theo luật pháp Đài Loan thì tàng trữ trên 5 gam mới bị coi là tội phạm (Điều 11) do đó có sự nhận thức pháp luật bị hạn chế. Hội đồng xét xử thấy: Phần ma túy còn lại bị quy kết về tội “Tàng tữ trái phép chất ma túy” là phần ma túy mua về sử dụng chưa hết, không phải cất dấu ở một nơi khác hay phân chia cho lần sử dụng sau.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm m khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; cho bị cáo Chang M1 Hsiu được áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm hình phạt cho hai bị cáo.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lien Yu T và C2; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 305/2023/HS – ST ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên bố bị cáo L3 Yu Ting phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Chang M1 Hsiu phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, m, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo L3 Yu Ting 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2022.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s, m, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Chang Min H3: 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội danh buộc bị cáo phải chịu là 01 (một) năm 9 (chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 22/11/2022.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí: bị cáo Lien Yu T và bị cáo Chang Min H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trí Tuấn |
Bản án số 362/2024/HS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 362/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lien Yu T và bị cáo Chang Min H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuyên xử Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lien Yu T và Chang Min H; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 305/2023/HS – ST ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
