Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 361/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/5/2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thái Thục Hiền
  2. Ông Đoàn Văn Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1004/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Diễm C, sinh năm 1974
  2. Địa chỉ: Đường C, Phường P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

  3. Bị đơn: Ông Trương Thanh H, sinh năm 1964
  4. Địa chỉ thường trú: Đường C, Phường P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Địa chỉ tạm trú: Đường T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2022 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – bà Nguyễn Ngọc Diễm C trình bày: Bà và ông Trương Thanh H chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân Phường 16, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41, quyển số 01/2011 ngày 14/4/2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, bà đã cho ông H nhiều cơ hội hàn gắn gia đình nhưng không có kết quả. Cuộc sống hôn nhân của bà và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn; cả hai hiện đang sống ly thân. Do tình cảm vợ chồng không còn, gia đình không hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trương Thanh H.

Về con chung: Bà và ông H không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống bà và ông H không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông Trương Thanh H không đến Tòa án theo giấy triệu tập và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà C nên Tòa án không thể thu thập được lời khai của ông H.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn - bà Nguyễn Ngọc Diễm C có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa

Bị đơn – ông Trương Thanh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Ngọc Diễm C và ông Trương Thanh H có đăng ký kết hôn, bà C yêu cầu ly hôn với ông H, xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về “tranh chấp ly hôn”.

Hiện nay, bị đơn là ông Trương Thanh H đang cư trú tại Quận H (Theo kết quả xác minh của Công an Phường 01, Quận 8) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Diễm C có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà C.

Bị đơn ông Trương Thanh H, Tòa án đã triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng ông H vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông H.

[3] Về yêu cầu của các đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41, Quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân Phường 16, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/4/2011, cùng lời khai của bà C về việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà C và ông H là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà C: Trong quá trình chung sống, bà C và ông H xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không có sự cảm thông, chia sẻ với nhau; ông H không quan tâm, chăm sóc vợ con. Bà C đã nhiều lần cho ông H cơ hội sửa đổi bản thân, để vợ chồng hàn gắn nhưng không đạt được kết quả mà tình trạng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Vợ chồng bà đã không còn quan tâm đến nhau, hiện bà và ông H đang sống ly thân. Bà C xác định vợ chồng không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân với ông H.

Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích trên cơ sở yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình, đồng thời vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau. Bà C và ông H đã không tôn trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, Tòa án đã cho ông H và bà C thời gian để các bên giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn gia đình nhưng không có kết quả, bà C vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với ông H. Do đó, việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Bà C xác định bà và ông H không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà C xác định bà và ông H không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà C phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc Diễm C về việc xin ly hôn với ông Trương Thanh H.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Diễm C được ly hôn với ông Trương Thanh H (Giấy chứng nhận kết hôn số 41, Quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân Phường 16, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).
    • - Về con chung: Bà C và ông H không có.
    • - Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự tự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Ngọc Diễm C phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009205 ngày 03/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

  4. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc Diễm C, ông Trương Thanh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND.TPHCM;
  • - VKSND Quận 8;
  • - Chi cục THADS Quận 8;
  • - UBND Phường 16, Quận 4;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Doãn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 361/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 361/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Ngọc Diễm C ly hôn ông Trương Thanh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger