Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 361/2024/HS-ST

Ngày: 28/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hải Yến

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu – Ông Dương Ngọc Linh.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký TAND TP . Vinh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Đào - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 363/2024/HSST ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 434/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn N; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T và bà Hoàng Thị L; Vợ con: Chưa có; Tiền án: Ngày 06/04/2023, Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ra trại ngày 14/02/2024; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 24/9/2024, tại khu vực bến xe N, thành phố H một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) và hỏi mua ma tuý sử dụng. N nói với người đàn ông này là “Lấy cho 200.000 đồng Heroin và hai viên hồng phiến”, rồi đưa 300.000 đồng cho người đàn ông này. Người đàn ông cầm tiền và rời đi, một lúc sau quay lại đưa cho N 1 bao nilong màu trắng, bên trong có chứa 02 (hai) gói được gói bằng giấy màu trắng và 02 (hai) viên nén hình tròn, màu đỏ hồng. N cầm lấy số ma túy trên rồi cất giấu vào trong túi quần phía sau bên phải đang mặc. Sau đó, N 2 xe khách từ thành phố Hà Nội về thành phố V Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, N xuống xe tại số A, đường T, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An Khi N đang đi bộ trên đường thì bị tổ công tác Công an phường Q thành phố V kiểm tra hành chính, phát hiện bên trong túi quần phía sau bên phải của N có 01 (một) bao nilong màu trắng bên trong có chứa 02 (hai) gói được gói bằng giấy trắng bên trong mỗi gói đều chứa cục bột màu trắng và 02 (hai) viên nén hình tròn, màu đỏ hồng, trên mỗi viên nén có chữ WY. Trần Văn N 3 nhận số chất cục bột màu trắng trên là ma tuý Heroin và hai viên nén hình tròn trên là ma tuý hồng phiến Ngãi cất giấu để sử dụng. Tổ công tác tiến hành thu giữ tang vật và dẫn giải Trần Văn N 4 trụ sở Công an phường Q V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 892/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 01/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: 02 mẫu chất cục bột màu trắng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Trần Văn N gửi tới giám định đều là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là D quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có tổng khối lượng là 0,114 gam (Không phẩy một trăm mười bốn gam).

Mẫu viên nén hình tròn, màu đỏ hồng (Ký hiệu M3) thu giữ của Trần Văn N 5 tới giám định là ma túy; loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,189 gam (Không phẩy một trăm tám mươi chín gam)”.

Việc thu giữ và xử lý vật chứng vụ án: 02 gói Heroin có khối lượng là 0,114 gam, sau khi lấy mẫu giám định còn lại là 0,074 gam. 02 viên ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,189 gam, sau khi mở niêm phong lấy mẫu giám định còn lại 0,100 gam. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vinh.

Cáo trạng số 373/CT-VKS-TPV ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Trần Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Văn N từ 18 đến 21 tháng tù. Ngoài ra, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu huỷ số ma túy thu giữ của bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không có tranh luận gì. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 24/9/2024, tại khu vực đường T, thuộc phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An tổ công tác Công an phường Q V kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang Trần Văn N 6 cất giữ trái phép 02 gói Heroine có khối lượng 0,114 gam và 02 viên ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,189 gam, tổng khối lượng là 0,303 gam ma túy, nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ Điều 4 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng ma tuý xác định: Tổng khối lượng 02 chất ma tuý là H và Methamphetamin thu giữ của Trần Văn N 7 0,114 gam + 0,189 gam = 0,303 gam nên tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2.2]. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện độc hại và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi cất dấu ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bản thân nên đã sa vào con đường phạm tội. Bị cáo đã từng bị Tòa án án xét xử vừa mới chấp hành xong bản án, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật kém nên cần xử phạt nghiêm, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 06/04/2023, Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 14/02/2024 đến ngày 24/9/2024 tiếp tục phạm tội nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[2.4] Trong vụ án này, theo lời khai của Trần Văn N thì có người đàn ông đã bán ma túy cho N 8 N không biết lai lịch, địa chỉ của người này nên không đủ căn cứ để xử lý.

[2.5] Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[2.6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Văn N 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/9/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong có chứa ma túy thu giữ của Trần Văn N. (Số vật chứng này hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK 2025/41 ngày 14/11/2024).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND TP.Vinh;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS TP.Vinh;
  • - Công an thành phố Vinh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Phạm Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 361/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 361/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Ngãi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger