|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 361/2024/HS-ST
Ngày: 31-07-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC -THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Phước.
- Ông Cao Quốc Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 361/2024/HSST ngày 11/07/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 407/2024/QĐXXST-HS ngày 17/07/2024, đối với bị cáo:
Hồng Văn N, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm: 1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D đường L, Tổ B, khu phố P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Nhà không số, hẻm D, Đường A, Tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 04/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Hồng Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị M; bị cáo có vợ là Phùng Thị Mỹ T1, sinh năm 1982, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15/01/2024, Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính tại nhà không số, hẻm D, đường A, tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm kiểm tra có Hồng Văn N và Phùng Thị Mỹ T1 là vợ của N ở nhà. Quá trình làm việc, bị cáo N khai nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và để ma túy trong 01 hộp bằng kim loại hình tròn để dưới gầm tủ bếp trong nhà. Sau đó, Công an phường L tiến hành kiểm tra theo lời N khai thì phát hiện 01 hộp bằng kim loại, bên trong có 02 gói nylon chứa tinh không màu tại dưới gầm tủ bếp nên tiến hành đưa N cùng vật chứng về trụ sở Công an phường L, đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo N khai sử dụng ma túy được khoảng gần 20 năm. Cách đây khoảng 02 tháng, thông qua bạn bè xã hội N quen biết một người tên T2 (không rõ lai lịch) nhà ở Quận B cũ, N nói với T2 rằng N nghiện ma túy thì T2 nói biết chỗ bán ma túy, nếu N cần thì T2 đi mua dùm cho N. Sau đó, N gọi điện thoại cho T2 đặt mua ma túy khoảng 05 đến 06 lần. Lần cuối cách đây khoảng 02 tuần (không nhớ rõ ngày), T2 gọi điện thoại cho N hỏi còn ma túy không, N bảo hết rồi và nhờ T2 mua dùm cho N 900.000 đồng ma túy đá. T2 chạy xe mô tô (không rõ biển số) đến nhà N (nhà không số, hẻm D, đường A, tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) để lấy tiền N đưa sau đó đi mua ma túy. Một lúc sau, T2 chạy xe mô tô đến nhà N và đưa cho N 01 gói ma túy, N cất giấu trong hộp kim loại hình tròn và sử dụng dần. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15/01/2024 thì bị kiểm tra, phát hiện và thu giữ.
Kết luận giám định số 1350/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1446 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Hồng Văn N và hình dấu Công an phường L, thành phố T bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1446 gam, loại Methamphetamine, khối lượng còn lại sau giám định là 0,0487 gam; 05 nỏ thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa, màu trắng; 01 bình nhựa bằng vỏ chai nước ngọt, có nắp màu đỏ, có gắn nỏ thủy tinh; 01 hộp bằng kim loại, hình tròn, trên hộp có chữ GOLD; 01 điện thoại di động, phía sau có chữ OPPO, màu xanh, không kiểm tra chi tiết bên trong.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với kết luận giám định, với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng và không có ý kiến gì khác.
Bản Cáo trạng số 355/CT-VKSTPTĐ ngày 08/07/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Hồng Văn Nhân T3 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và dụng cụ sử dụng ma túy. Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước đối với điện thoại di động, phía sau có chữ OPPO, màu xanh mà bị cáo liên hệ mua ma túy.
Bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15/01/2024, tại nhà không số, hẻm D, đường A, tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Công an phường L kiểm tra hành chính và phát hiện Hồng Văn N đang tàng trữ 0,1446 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt: Bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết định khung tăng nặng hình phạt khác.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, làm tiền đề phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xấu trong xã hội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 471/24, các chữ ký ghi tên thiếu tá Trần Đình H, Nguyễn Thị Phương M1. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: tinh thể không màu có khối lượng 0,0487 gam (theo Kết luận giám định số 1350/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H); 05 nỏ thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa, màu trắng; 01 bình nhựa bằng vỏ chai nước ngọt, có nắp màu đỏ, có gắn nỏ thủy tinh; 01 hộp bằng kim loại, hình tròn, trên hộp có chữ GOLD. Xét đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với: 01 điện thoại di động OPPO, bị cáo khai đã sử dụng điện thoại này để liên hệ với T2 mua ma túy về sử dụng nên tịch thu, sung quỹ nhà nước.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Luật Thi hành dân sự;
- - Luật Thi hành án hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồng Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồng Văn N: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 471/24, các chữ ký ghi tên thiếu tá Trần Đình H, Nguyễn Thị Phương M1. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: tinh thể không màu có khối lượng 0,0487 gam (theo Kết luận giám định số 1350/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H); 05 nỏ thủy tinh; 01 ống hút bằng nhựa, màu trắng; 01 bình nhựa bằng vỏ chai nước ngọt, có nắp màu đỏ, có gắn nỏ thủy tinh; 01 hộp bằng kim loại, hình tròn, trên hộp có chữ GOLD.
- - Tịch thu, sung quỹ nhà nước đối với: 01 điện thoại di động OPPO.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 244/QĐ-VKSTPTÐ ngày 17/06/2024 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/07/2024)
- Về án phí:
Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Trung Thực |
Bản án số 361/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 361/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồng Văn Nh
