TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 361/2023/DSPT Ngày: 15 - 8 - 2023 V/v “Tranh chấp buộc tháo dỡ công trình và đòi lại quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Hồng Dung;
Bà Nguyễn Thị Trang Thư.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Huỳnh Hồng Phil - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 14 và 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2022/TLPT-DS ngày 21 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp buộc tháo dỡ công trình và đòi lại quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2022/DS – ST ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều bị nguyên đơn và bị đơn kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 149/2022/QĐPT-DS ngày 08 tháng 9 năm 2022 và Thông báo mở lại phiên tòa số 160/2023/TB-TA ngày 20 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Mạch Phú C, sinh năm 1961; (có mặt)
- Bị đơn: Bà Hồ Thị T, sinh năm 1973; (có mặt)
Địa chỉ: Lô H, số A, 2, 3 và 4 đường số A, 15, 23 KDC Xây dựng số H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Số A, tổ E, khu V, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn là ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992; địa chỉ: A khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn ông Mạch Phú C trình bày: Ông là chủ sử dụng đất diện tích 364,30m², thửa 581, tờ bản đồ số 68 (loại đất Q), tọa lạc tại ấp L, xã A, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (hiện tại khu vực 8, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: X 202401 (số vào số: 09256.QSDĐ) do Ủy ban nhân dân thành phố C (cũ) cấp cho ông Mạch Phú C ngày 10/01/2003. Phần quyền sử dụng đất của ông tiếp giáp ranh với đất của bà Hồ Thị T với chiều dài thâm hậu khoảng 48m.
Năm 2015, giữa ông và bà Hồ Thị T có phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất nói trên đã được Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xem xét giải quyết. Ngày 30/12/2015, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều ban hành Quyết định số: 88/2015/QÐST-DS về việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Đến ngày 30/11/2016, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tiếp tục ban hành Công văn số 839/CV-TA “V/v trả lời Công văn số 680 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều” với nội dung: “Đối với phần trả lời tính từ vị trí nào để đủ diện tích đất cho ông Mạch Phú C, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Mạch Phú C thể hiện đất của ông C với diện tích ngang trước, ngang sau đều là 7,50m. Như vậy để xác định diện tích đất theo giấy cho ông C sẽ xác định tính từ vị trí thỏa thuận giữa ông C với bà T kéo sang cạnh tiếp giáp với thửa đất 216 ngang trước 7,50m, ngang sau 7,50m và kéo thẳng từ trước ra sau (kéo cả 2 hai bên là giáp với đất của bà T và giáp với phần đất của thửa 216) sẽ là phần đất theo giấy của ông C”. Tuy nhiên, phía bà Hồ Thị T và cả Cơ quan Thi hành án dân sự đều không thi hành theo quyết định, công văn của Tòa án.
Vì vậy, ông Mạch Phú C khởi kiện buộc bà Hồ Thị T tự tháo dỡ di dời toàn bộ các công trình của bà xây dựng ra khỏi phần đất đã lấn chiếm của nguyên đơn có hình cánh buồm chiều dài khoảng 48m (hơn 10m²) và chịu toàn bộ các chi phí tháo dỡ di dời do bà T đã gây ra, để trả lại tài sản là quyền sử dụng để nguyên đơn sử dụng.
Theo đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 24/12/2020 bị đơn bà Hồ Thị T trình bày: Thông qua quyết định thỏa thuận nhiều mâu thuẫn ở vụ án trước nhưng vẫn không giải quyết được. Diện tích quyền sử dụng đất của ông C đã đo đạc được là dư hay thiếu? Trường hợp đủ thì tại sao lại lấy đất của bà. Quyết định trước của Thẩm phán Hồ Thị Tuyết P mâu thuẫn cần phải hủy bỏ. Vì vậy, bị đơn đề nghị Tòa án xem xét lại, xử lý đúng quy định của pháp luật, đảm bảo công bằng cho các bên.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 18/2022/DS – ST ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử:
2
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mạch Phú C.
Buộc bà Hồ Thị T phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm, trả lại cho ông Mạch Phú C phần quyền sử dụng đất diện tích 09m², tọa lạc tại: khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Phần đất ký hiệu (B) theo Bản trích đo địa chính số: 106/TTKTTNMT ngày 06/10/2021 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C (Đính kèm).
- Về chi phí thẩm định tại chỗ: Bị đơn phải chịu 4.152.000 đồng (Bốn triệu, một trăm năm mươi hai nghìn đồng), do nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi xong nên bà Hồ Thị T có nghĩa vụ trả lại cho ông Mạch Phú C số tiền này.
- Về án phí:
- Bị đơn bà Hồ Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- Nguyên đơn ông Mạch Phú C được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số: 002589 ngày 27/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương. Bản án nêu trên nguyên đơn ông Mạch Phú C và bị đơn bà Hồ Thị T kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Ngoài ra, ông C còn đề nghị HĐXX áp dụng bản trích đo địa chính số 183 ngày 21/11/2022 của Trung tâm Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C để buộc bà T phải tháo dở công trình, vật kiến trúc trên phần đất ký hiệu B có diện tích 63.7m² và trả lại cho ông phần đất này
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Trong giai đoạn phúc thẩm Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về Thụ lý xét xử phúc thẩm (Điều 285); Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm (Điều 286); Cung cấp tài liệu, chứng cứ (Điều 287); Triệu tập những người tham gia tố tụng (Điều 294).
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng theo thẩm quyền được quy định tại Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Thư ký phiên tòa đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn đúng theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
3
- - Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án dân sự: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 18/2022/DS-ST ngày 24/02/2022 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn tháo dỡ công trình, vật kiến trúc và trả lại quyền sử dụng đất trên phần đất được xác định là của nguyên đơn theo quyết định công nhận sự thỏa thuận số 88/2015/QÐST-DS ngày 30/12/2015 của Tòa án nhân dân quận N. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp buộc tháo dỡ công trình và đòi lại quyền sử dụng đất”.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, theo đơn kháng cáo ông C đề nghị xem xét phần đất có diện tích 57,5m² nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông được ông Thuận t cho theo Biên bản giải quyết tranh chấp đất đai ngày 15/5/2014. Hội đồng xét xử xét thấy, theo đơn khởi kiện ông C không có yêu cầu này và trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm cũng chưa xem xét nội dung này nên yêu cầu kháng cáo liên quan đến phần đất 57.5m² là vượt quá phạm vi khởi kiện, phạm vi xét xử phúc thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Ngoài ra, ông C kháng cáo đề nghị tái phục hồi lại bản trích đo địa chính số 97 ngày 15/10/2020 để áp dụng, do bị điều chỉnh thay thế bản trích đo địa chính số 106 ngày 06/10/2021. Tại phiên tòa, ông C đề nghị áp dụng bản trích đo địa chính số 183 ngày 21/11/2022 và yêu cầu bà T di dời công trình vật kiến trúc trên phần đất có diện tích 63.7m² (B) để trả lại đất cho ông. Hội đồng xét xử xét thấy, ông C khởi kiện yêu cầu bà T di dời vật kiến trúc trên phần đất mà theo quyết định công nhận sự thỏa thuận số 88/2015/QĐST-DS ngày 30/12/2015 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xác định là thuộc quyền sử dụng của ông. Tuy nhiên, theo đơn khởi kiện, ông C chỉ yêu cầu bà T di dời công trình vật kiến trúc trên phần đất có diện tích khoảng 09m², đồng thời theo quyết định công nhận sự thỏa thuận số 88/2015/QĐST-DS ngày 30/12/2015 thì ranh đất giữa ông C và bà T được xác định cụ thể là ...từ phía trụ đá hàng rào nhà bà Hồ Thị T kéo qua trừ 0,16m, phía sau tính từ bức tường nhà bà T kéo qua trừ 0,12m.…… “ và theo giải
4
thích tại công văn số: 755/TA-VP ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều “kéo thẳng được hiểu là thẳng dọc theo phần tường rào của bà Hồ Thị T”. Như vậy, bản trích đo địa chính số 106 ngày 13/7/2021 đã thể hiện đúng theo tinh thần của quyết định số 88 và công văn giải thích số 755 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều về việc xác định ranh đất giữa ông C và bà T. Mặt khác, theo bản trích đo địa chính này, thì diện tích đất của ông C có biến động tăng thêm nhưng không đáng kể và đất của bà T cũng không thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, việc xác định ranh là ý chí tự nguyện của nguyên đơn và bị đơn tại thời điểm thỏa thuận. Do đó, ông C đề nghị áp dụng bản trích đo địa chính số 97 là không có cơ sở chấp nhận. Ngoài ra, căn cứ vào bản trích đo địa chính số 183 ngày 21/11/2022 thì diện tích tại vị trí B có diện tích 63.7 sau khi trừ 09m² (theo quyết định số 88) của ông C thì phần diện tích đất thực tế còn lại là 54.7m² nếu cộng phần diện tích này thì đất của bà T có tổng diện tích là 359,4m², có tăng thêm 09m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không đáng kể. Trong khi đó, nếu buộc bà T tháo dở công trình vật kiến trúc trên phần đất 63.7m² tại vị trí B thì đất của bà T thiếu rất nhiều khoảng 50m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng thời phải thảo dở phần lớn ngôi nhà của bà T đang sử dụng. Vì vậy, ông C đề nghị áp dụng bản trích đó địa chính số 183 ngày 21/11/2022 là cũng không có cơ sở chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, bà Hồ Thị T về việc đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như đã nhận định trên cho thấy, việc xác định ranh đất theo quyết định công nhận sự thỏa thuận số 88/2015/QÐST-DS ngày 30/12/2015 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều là sự thỏa thuận tự nguyện của ông C và bà T đồng thời việc xác định ranh này cũng không làm biến động giảm quyền sử dụng đất của cả 02 bên nguyên đơn và bị đơn. Như vậy, mặc dù ông C và bà T chưa cập nhật biến động tăng quyền sử dụng đất trên giấy chứng nhận nhưng Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 88/2015/QÐST-DS ngày 30/12/2015 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều là căn cứ để xác định quyền sử dụng đất của ông C, bà T. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn tháo dỡ công trình, vật kiến trúc (hàng rào) trên phần đất được xác định thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.Vì vậy, bản án sơ thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà T kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu của mình nên yêu cầu kháng cáo của bà không được chấp nhận.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm:
5
Bà Hồ Thị T phải chịu 300.000 đồng. (ba trăm nghìn đồng). Bà T được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) thành án phí.
Ông C được miễn nộp án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 12, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Mạch Phú C và bị đơn bà Hồ Thị T.
- Giữ nguyên bản án số 18/2022/DS – ST ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mạch Phú C.
Buộc bà Hồ Thị T phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm, trả lại cho ông Mạch Phú C phần quyền sử dụng đất diện tích 09m², tọa lạc tại: khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Phần đất ký hiệu (B) theo Bản trích đo địa chính số: 106/TTKTTNMT ngày 06/10/2021 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C (Đính kèm).
- Về chi phí tố tụng:
- Chi phí đo đạc và xem xét thẩm định tại chỗ ở cấp sơ thẩm: Bị đơn phải chịu 4.152.000 đồng (Bốn triệu, một trăm năm mươi hai nghìn đồng), do nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi xong nên bà Hồ Thị T có nghĩa vụ trả lại cho ông Mạch Phú C số tiền này.
- Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ở cấp phúc thẩm: 6.456.000 đồng (sáu triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng) bà Hồ Thị T phải chịu, bà T đã nộp xong.
- Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Hồ Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
6
- Nguyên đơn ông Mạch Phú C được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 002589 ngày 27/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- - Bà Hồ Thị T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Bà T được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001774 ngày 14/3/2022 thành án phí.
- - Ông C được miễn nộp án phí.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Loan |
7
Bản án số 361/2023/DSPT ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp buộc tháo dỡ công trình và đòi lại quyền sử dụng đất
- Số bản án: 361/2023/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp buộc tháo dỡ công trình và đòi lại quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cường -Thương - Buộc tháo dỡ công trình và đòi lại QSD đất
