|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 361/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14/9/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên
Ông Nguyễn Văn Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 377/2024/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, về việc" Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 433/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 287/2024/QĐ-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị L, sinh ngày 09/8/1983.
Địa chỉ: Số nhà B, Đ, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn : Anh Hoàng Văn T, sinh ngày 02/10/1982.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số nhà B, Đ, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang lao động: Vương quốc A.
( Chị L, anh T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Đinh Thị L trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh T tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương ngày 11/9/2006. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Năm 2008 anh T sang Cộng hòa liên bang Đ lao động, sau đó sang Vương Quốc A làm việc. Từ khi đi anh T chưa về Việt Nam lần nào và cũng không quan tâm đến mẹ con chị. Nguyên nhân mâu thuẫn là do năm 2011 anh T sang V lao động đã sống chung với người phụ nữ khác và không về Việt Nam. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Hoàng Kim Đinh Ngọc N, sinh ngày 20/5/2007, từ bé cháu N ở cùng với chị, ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con, tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị tự nguyện chịu cả án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Anh Hoàng Văn T hiện đang lao động tại V, do chị L không cung cấp được địa chỉ của anh T ở nước ngoài nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh T thông qua gia đình. Bà Nguyễn Thị T1 là mẹ đẻ anh T xác định, anh T đi nước ngoài lao động từ năm 2008, từ khi đi anh T chưa về Việt Nam lần nào, địa chỉ của anh T ở nước ngoài bà không biết, nhưng anh T thường xuyên liên lạc về gia đình. Anh T, chị L sống hạnh phúc khoảng 2 năm thì anh T đi nước ngoài, do sống xa nhau dẫn đến bất đồng quan điểm. Bà đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh T biết. Thông qua gia đình cũng như tại buổi làm việc với Tòa án, anh T đã trực tiếp gọi điện thoại về và thể hiện quan điểm: Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, nay chị L có đơn ly hôn, anh đồng ý. Về con chung, anh đồng ý để chị L nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện anh chưa thể về Việt Nam, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho mẹ đẻ nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án.
- Cháu Hoàng K Đinh Ngọc N có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị L được ly hôn anh T. Về con chung: Giao cháu Hoàng K Đinh Ngọc N, sinh ngày 20/5/2007 cho chị Đinh Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Chị L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Chị Đinh Thị L và anh Hoàng Văn T đều có Hộ khẩu thường trú tại: Số nhà B, Đ, phường B, T. Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Hiện anh T đang lao động tại V. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Quá trình giải quyết vụ án, chị L không cung cấp được địa chỉ của anh T tại V. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh T cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh T được biết, anh T thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T1. Bà T1 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh T biết, anh T đã gọi điện thoại trực tiếp làm việc với Tòa án thông qua gia đình, đồng thời trình bày quan điểm của anh về việc ly hôn và nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án chị L và anh T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị L và anh Hoàng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương ngày 11/9/2006, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau, hai bên thiếu niềm tin dẫn đến bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2008, nay chị L có đơn ly hôn, anh T cũng đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.
- Về quan hệ con chung: Chị Đinh Thị L và anh Hoàng Văn T có một con chung là cháu Hoàng K Đinh Ngọc N, sinh ngày 20/5/2007. Hiện cháu N đang được chị L nuôi dưỡng. Ly hôn chị L có nguyện vọng được nuôi con, anh T cũng đồng ý. Xét thấy, thực tế anh T đang ở nước ngoài nên không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con, mặt khác cháu N là con gái, cháu sống cùng mẹ từ nhỏ, được chị L nuôi dưỡng và phát triển tốt. Do vậy để ổn định cuộc sống của cháu N, cần tiếp tục giao cháu N cho chị L nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4].Về án phí: Chị Đinh Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn T.
- Về con chung: Giao con chung Hoàng Kim Đinh Ngọc N, sinh ngày 20/5/2007 cho chị Đinh Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Hoàng Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Đinh Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000859 ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị L đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Hoàng Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 361/2024/HNGĐ-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 361/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
