|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 361/2024/HS-PT Ngày 20 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Phạm Trí Tuấn |
|
Các Thẩm phán: |
Bà Hồ Thị Thanh Thúy Ông Nguyễn Văn Minh |
|
Thư ký phiên tòa: |
Bà Trịnh Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. |
|
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: |
Ông Trần Ngọc Đoàn - Kiểm sát viên. |
Trong các ngày 13 và 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 957/2023/TLPT-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Ngũ Ngọc H và Phan Bá H1.
Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án sơ thẩm số 45/2023/HS –ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Ngũ Ngọc H, giới tính: nam; sinh năm 1971 tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số E đường P, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: kinh doanh; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Ngũ Q, sinh năm 1927 (đã chết) và bà Lâm Thị M, sinh năm 1930 (đã chết); bị cáo có vợ là Huỳnh Thái Thụy Diễm C, sinh năm 1980 và có 01 người con tên Ngũ Ngọc Tấn T, sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/11/2022 đến ngày 07/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đến nay (có mặt).
2. Phan Bá H1, giới tính: nam; sinh năm 1972 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi thường trú: Khu phố A, phường L, thị xã P, Bình Phước; nơi ở hiện tại: Tổ D, khu phố C, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 8/12; con ông Phan Bá N, sinh năm 1946 và bà Hồ Thị T1, sinh năm 1952; bị cáo có vợ tên Mai Thị Thanh H2, sinh năm 1978 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995 và nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/11/2022 đến ngày 18/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đến nay. (có mặt)
- Người bào chữa cho các bị cáo:
- Người bào chữa cho bị cáo Ngũ Ngọc H: Luật sư Nguyễn Mạnh H3 – Công ty L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Phan Bá H1: Luật sư Phan Thanh H4 - Công ty L1 - Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).
(Trong vụ án có Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Bá H1 bỏ vốn thành lập Công ty TNHH MTV T4(gọi tắt là Công ty T4); mã số doanh nghiệp C1, địa chỉ trụ sở tại số H, đường T, khu phố D, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước, được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu ngày 22/6/2015; ngành nghề kinh doanh: Mua bán, xuất nhập khẩu nông sản, chế biến hạt điều. Do H1 đã đứng tên Giám đốc Công ty TNHH S và Công ty này đang nợ đọng thuế, sợ ảnh hưởng đến uy tín trong kinh doanh nên H1 đã nhờ em ruột là ông Phan Bá T2 đứng tên Giám đốc và là người đại điện theo pháp luật của Công ty T4. Ông T2 không tham gia vào hoạt động điều hành công ty mà làm nghề tài xế lái xe tuyên truyền lưu động cho Trung tâm văn hóa thị xã P, H1 mới là người trực tiếp quản lý tài chính, quản lý số tài khoản giao dịch và điều hành tất cả mọi hoạt động của Công ty T4. Sau khi thành lập Công ty T4, H1 thu mua nhân hạt điều bể xô về sơ chế, đóng gói rồi xuất khẩu ra nước ngoài theo loại hình B11 (sản xuất kinh doanh hàng trong nước bán ra nước ngoài).
Đến tháng 8/2017, Ngũ Ngọc H đang là giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV N3 (Công ty N3); mã số doanh nghiệp C2; địa chỉ trụ sở chính: Số E đường P, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. H nảy sinh ý định nhập khẩu hạt điều thô về Việt Nam bán lại cho các bạn hàng - là người bán hạt điều nhân cho bị cáo. Sau khi tìm được nguồn hàng từ bà Trần Thị Kim H5 giới thiệu, bị cáo liên hệ với Chi cục Hải quan C3 thì được hướng dẫn muốn nhập khẩu hạt điều thô từ C về Việt Nam thì phải nhập khẩu theo loại hình nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất xuất khẩu (loại hình E31- là loại hình được hưởng ưu đãi miễn thuế nhập khẩu và chịu sự giám sát của cơ quan Hải Quan từ thời điểm nhập khẩu đến thời điểm hoàn tất thủ tục xuất khẩu sản phẩm; sản phẩm sản xuất từ nguồn nguyên liệu nhập khẩu phải được xuất khẩu) và công ty phải có cơ sở sản xuất, đủ năng lực sản xuất xuất khẩu thì mới được mở tờ khai Hải quan nhập khẩu nhưng Công ty N3 không đủ điều kiện. Thông qua giới thiệu của Hồ Hoàng Khánh N1, H biết H1 có công ty đang xuất khẩu nhân hạt điều ra nước ngoài nên tìm gặp H1 để trao đổi, thoả thuận hợp tác nhập khẩu hạt điều thô về bán cho bạn hàng. Cụ thể: H nói cho H1 biết Công ty của H không có cơ sở sản xuất, không đủ năng lực, điều kiện để nhập khẩu hạt điều thô từ C về Việt Nam, H nhờ H1 lấy pháp nhân Công ty T4 nhập khẩu điều thô từ C về Việt Nam rồi giao cho H bán kiếm lời, lợi nhuận thu được sẽ chia cho H1; H1 có nhiệm vụ lấy nhân hạt điều nguồn gốc trong nước để khai báo Hải quan là hàng xuất khẩu có nguồn gốc từ nguồn nguyên liệu nhập khẩu để hợp thức cho phù hợp với số hạt điều thô đã nhập khẩu; H là người bỏ toàn bộ tiền vốn ra để mua hạt điều thô nhập khẩu, còn H1 ký hồ sơ, chứng từ nhập khẩu hạt điều. Tất cả các phí thuê dịch vụ khai báo Hải quan, vận chuyển hàng hoá... do H chi trả.ungHungwmklnjadvkjkohnoVdđư
Sau khi thống nhất với H, H1 liên hệ thuê Lê Khả H6 làm dịch vụ khai báo Hải quan cho Công ty T4 nhập khẩu hạt điều thô theo loại hình E31. H1 cung cấp các tài liệu chứng minh Công ty có cơ sở sản xuất, máy móc thiết bị, nhân công, hồ sơ pháp nhân Công ty T4 để Lê Khả H6 làm Thông báo cơ sở sản xuất (Mẫu 12) nộp cho Chi cục Hải quan C3. Đến tháng 10/2017, Chi cục Hải quan C3 có Kết luận số 1437/KL-CT xác định Công ty T4 đủ điều kiện để nhập khẩu hạt điều thuộc loại hình E31.
Ngũ Ngọc H đã nhờ bà Trần Thị Kim H5 môi giới mua hạt điều từ đối tác nước ngoài đưa về Việt Nam, thống nhất mỗi lô hàng sẽ đặt cọc trước từ 10% - 15% trị giá lô hàng, khi hàng về đến cảng C thì H sẽ thanh toán hết toàn bộ số tiền còn lại cho đối tác nước ngoài để nhận hàng và trả công môi giới cho bà H5 số tiền 10 USD/1 tấn điều nhập khẩu về Việt Nam. H sử dụng hộp thư điện tử (email) nguhung0611@gmail.com gửi thông tin Công ty T4 vào hộp thư trantkimha@yahoo.com bà H5 để nhờ chuyển cho đối tác nước ngoài soạn thảo hợp đồng mua bán. Sau khi đối tác nước ngoài gửi hợp đồng mua bán vào email của bà H5 thì bà H5 chuyển vào hộp thư nguhung0611@gmail.com cho H. Sau khi nhận email có chứa File bản hợp đồng mua bán hạt điều bằng Tiếng Anh, H chuyển nhờ Hồ Hoàng Khánh N1 kiểm tra các điều kiện nêu trong hợp đồng có đúng ý của H không. Khi các điều kiện trong hợp đồng đảm bảo thì H chuyển cho H1 để H1 đưa cho T2 đại diện Công Thảo V ký hợp đồng. Khi ký xong hợp đồng, H chuyển tiền vào tài khoản số 1008685895 (Ngân hàng S1) của Công ty T4 để H1 đổi ra USD thanh toán tiền đặt cọc cho đối tác nước ngoài. Khi hạt điều thô về đến cảng C, H tiếp tục chuyển tiền vào tài khoản Công ty T4 để H1 thanh toán cho đối tác và nhận bộ hồ sơ chứng từ của lô hàng nhập khẩu về giao lại cho Lê Khả H6 làm thủ tục thông quan.
Bằng phương thức trên, từ ngày 13/10/2017 đến ngày 08/02/2018 H6 và H1 đã sử dụng pháp nhân Công ty T4 mở 04 tờ khai theo loại hình E31 tại Chi cục Hải quan C3 để nhập khẩu với số lượng là 575.115 kg trị giá 27.624.818.858 đồng. Sau khi được thông quan, Ngũ Ngọc H yêu cầu Lê Khả H6 vận chuyển số hạt điều nhập khẩu này từ cảng C về huyện B, tỉnh Bình Phước và bán cho bà Lê Thị Đ 150.000 kg, thu về 5.000.000.000 đồng; bán cho Hoàng Đình P 75.000 kg, thu về 2.000.000.000 đồng; bán cho bà Nguyễn Thị O 100.000 kg, thu về 3.500.000.000 đồng. Số hạt điều thô còn lại H6 bán cho Mạc Thị V1, sinh năm 1940, trú tại ấp B, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước (đã chết năm 2021) và một số người khác tại khu vực huyện B (không xác định được nhân thân, lai lịch). Khi bán cho những người trên thì H6 không xuất hoá đơn bán hàng, không ghi chép sổ sách và cũng không nói về nguồn gốc hạt điều được nhập khẩu như thế nào, theo loại hình nào. Sau khi bán được số hạt điều nêu trên thì H6 thu được là 465.000.000 đồng tiền lãi, trong đó H6 hưởng lợi 200.000.000 đồng và chia cho H1 265.000.000 đồng. H6 đưa tiền mặt là 15.000.000 đồng, còn lại 250.000.000 đồng H6 chuyển vào số tài khoản 060070583952 tại Ngân hàng S2 của Phan Bá Nguyên V2 - là con ruột của H1. Số tiền này H1 đã nhờ V2 chuyển khoản thanh toán các khoản chi của H1.
Theo thoả thuận với H6 thì H1 phải mua điều nhân trong nước và sử dụng pháp nhân Công ty T4 để hợp thức việc xuất khẩu theo loại hình E62. Tuy nhiên, sau thời điểm nhập khẩu nêu trên thì H1 gặp khó khăn về tài chính nên không có tiền mua nhân điều trong nước để xuất khẩu, không hợp thức được số hạt điều nguyên liệu đã cùng H6 nhập khẩu. H1 biết vợ chồng em gái ruột là Phan Thị Thùy V3 có Công ty TNHH S3 (Công ty S3), mã số thuế 3801165601, địa chỉ tại số B (nay là số C) đường T, khu phố C, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước, đang kinh doanh mua bán và xuất khẩu hạt điều nên H1 nhờ V3 xuất khẩu ủy thác cho Công ty T4. Khi đó, H1 nói dối với V3 là Công ty T4 của H1 đang gặp khó khăn về tài chính, muốn vay vốn ngân hàng để tái cơ cấu lại hoạt động của Công ty và để ngân hàng xét duyệt vay vốn nhanh thì cần có hợp đồng mua bán luân chuyển tiền trong tài khoản của Công ty T4. Tin tưởng lời H1 nói nên V3 đồng ý giúp H1 xuất khẩu ủy thác. Vy trao đổi lại với chồng là Nguyễn Ngọc H7 - Giám đốc Công ty S3 và do H7 không biết mục đích thật sự của H1 là để hợp thức cho số hạt điều nhập khẩu theo loại hình E31 đã bị H1 và Ngũ Ngọc H tiêu thụ nội địa nên đã đồng ý. Từ ngày 05/4/2019 đến 02/5/2019, Công ty S3 ký mở 06 tờ khai xuất khẩu ủy thác cho Công ty T4 với trọng lượng nhân hạt điều là 103.057,92 kg, trị giá 11.815.731.500 đồng.
Từ ngày 12/7/2021 đến ngày 06/8/2021, Cục Kiểm tra sau thông quan – T5 đã tiến hành kiểm tra hàng tồn kho của Công ty T4. Ngày 20/8/2021, Cục kiểm tra sau thông quan có Bản kết luận kiểm tra số 1200/KL/KTSTQ xác định Công ty T4 có dấu hiệu vi phạm pháp luật về việc sử dụng không đúng mục đích đối với hạt điều thô nhập khẩu theo loại hình sản xuất xuất khẩu mà không khai báo với cơ quan Hải quan. Ngày 19/11/2021, Cục kiểm tra sau thông quan chuyển thông tin và hồ sơ vi phạm của Công ty T4 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để điều tra theo quy định.
* Quá trình điều tra đã thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- - 04 bộ hồ sơ tờ khai nhập khẩu theo loại hình sản xuất xuất khẩu (E31) của Công ty T4 và 04 bộ hồ sơ xuất khẩu E62 của Công ty S3 (do Chi cục Hải quan Chơn thành cung cấp);
- - 01 mộc dấu hình chữ nhật của Công ty TNHH MTV T4, mã số thuế 3801102785, địa chỉ: số H đường T, khu phố D, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước (thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở P).
- - 01 mộc dấu hình tròn của Công ty TNHH MTV T4, mã số thuế 3801102785, địa chỉ: số H đường T, khu phố D, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước (do Phan Bá T2 giao nộp).
- - 01 đĩa DVD lưu giữ file ghi âm chứa nội dung Ngũ Ngọc H hướng dẫn Phan Bá H1 khai báo gian dối để cơ quan điều tra không tìm được người môi giới cho H mua hạt Điều từ nước ngoài về Việt Nam (do Phan Bá H1 cung cấp và đã niêm phong);
- - 01 USB chứa file ảnh chụp màn hình hộp thư điện tử ghi nhận nội dung trao đổi và dữ liệu liên quan đến việc H mua hạt điều nước ngoài để nhập khẩu vào Việt Nam (do Ngũ Ngọc H cung cấp và đã niêm phong);
- - Số tiền 620.000.000 đồng do gia đình các bị cáo nộp để khắc phục hậu quả, trong đó gia đình bị cáo H1 nộp 200.000.000 đồng và gia đình bị cáo H nộp 420.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2023/HS –ST ngày 26/9/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã quyết định:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Ngũ Ngọc H và Phan Bá H1 phạm tội “Buôn lậu”
2. Về áp dụng điều luật và hình phạt:
- - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 188; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
- Xử phạt bị cáo Ngũ Ngọc H 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2022 cho đến ngày 07/4/2023.
- - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 188; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 54, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
- Xử phạt bị cáo Phan Bá H1 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2022 cho đến ngày 18/4/2023.
3. Biện pháp tư pháp: Áp dụng các điều 46 và 47 Bộ luật Hình sự,
- Buộc bị cáo Ngũ Ngọc H phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền sử dụng vào việc phạm tội là 27.254.818.858 đồng (Hai mươi bảy tỷ, hai trăm năm mươi bốn triệu, tám trăm mười tám nghìn, tám trăm năm mươi tám đồng) còn chưa nộp.
- Buộc bị cáo Phan Bá H1 tiếp tục nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 165.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu đồng) thu lợi bất chính.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 670.000.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi triệu đồng), trong đó có 620.000.000 đồng các bị cáo đã nộp tại Cơ quan điều tra (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0000299 ngày 02/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước) và 50.000.000 đồng bị cáo Phan Bá H1 nộp tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước (theo Phiếu thu ngày 26/9/2023).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 03 và 20 tháng 10 năm 2023 bị cáo Ngũ Ngọc H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm, với lý do:
- Về trách nhiệm hình sự:
- Về trách nhiệm dân sự:
Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo luôn thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, chỉ tha thiết mong Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ tính chất, mức độ phạm tội có phần hạn chế, lần đầu tiên bị cáo mang tiếng làm ăn phi pháp, chịu cảnh tù tội tán gia bại sản. Đề nghị Tòa nhìn lại, đánh giá lại tính chất đồng phạm để lượng hình. Buộc bị cáo khắc phục toàn bộ thiệt hại là không đúng. Áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết tăng nặng là sai, thêm cho bị cáo đồng phạm tình tiết giảm nhẹ để bù trừ giảm án sâu là thiên vị. Tịch thu nguồn tiền hợp pháp mà khách hàng giao bị cáo trả tiền mua hạt điều. Buộc bị cáo khắc phục hậu quả trong khi Nhà nước chỉ thiệt hại 5% thuế xuất nhập khẩu.
Bị cáo Phan Bá H1 – đồng phạm trong vụ án là người lo toàn bộ giấy tờ, thủ tục nhập khẩu để hàng hóa đủ điều kiện để thông quan; còn bị cáo thu gom tiền của bạn hàng để thanh toán, tìm môi giới nguồn hàng, nhận hàng giao cho khách mua. Tuy nhiên Hội đồng xét xử không khách quan áp dụng sai các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, không xem xét đến chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật, thờ ơ, vô cảm trước số phận của con người. Áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” không đúng, bị cáo chỉ phạm tội 01 lần; áp dụng tình tiết giảm nhẹ “lập công chuộc tội” cho bị cáo Phan Bá H1 là không công tâm, không phù hợp quy định của pháp luật.
Bị cáo và bị cáo H1 là đồng phạm trong vụ án nhưng chỉ buộc bị cáo trả toàn bộ số tiền là không đúng. Xem xét vai trò của bị cáo và bị cáo H1 không đúng, chỉ gây thiệt hại 5% thuế và thực tế có nhiều bản án xét xử vậy nhưng buộc bị cáo bồi thường toàn bộ là không đúng.
Đề nghị Hội đồng xét xử công tâm, xem xét thấu tình đạt lý và áp dụng chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước để giảm hình phạt cho bị cáo và xác định đúng thiệt hại để bị cáo và gia đình sớm có điều kiện khắc phục toàn bộ thiệt hại.
Bị cáo Phan Bá H1 có đơn kháng cáo và kháng cáo bổ sung đề ngày 06/10/2023 và 16/10/2023 với nội dung: xem xét áp dụng điểm d khoản 2 Điều 188 Bộ luật hình sự để giảm án và cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có cơ hội chữa bệnh, làm ăn lương thiện, nuôi dưỡng gia đình, ba mẹ già.
Xem xét số tiền thu lợi bất chính nộp khắc phục hậu quả là 250 triệu đồng. Trong phiên tòa ngày 26/9/2023 do tâm lý không ổn định nên trả lời không rõ ràng ghi thành thu lợi bất chính nộp 100.000.000 đồng và nộp tiền khắc phục hậu quả là 150.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và biện pháp tư pháp đối với bị cáo Ngũ Ngọc H. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Phan Bá H1, chấp nhận kháng cáo về số tiền 100.000.000 đồng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên.
Bào chữa cho bị cáo Ngũ Ngọc H - luật sư Nguyễn Mạnh H3 bổ sung giấy tờ chứng minh cha vợ của bị cáo là ông Huỳnh Văn K có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến và có nhiều đóng góp cho hoạt động của Hội cựu giáo chức huyện C, tỉnh An Giang đồng thời cung cấp một số bản án có hiệu lực của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử về tội buôn lậu với các bị cáo khác được đăng trên cổng thông tin điện tử của ngành tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo hạn chế, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục hậu quả; bị cáo không biết thủ tục nhập khẩu nên đã bán nội địa dẫn đến phạm tội. Thủ tục hải quan không phải do bị cáo thực hiện, bị cáo không có động cơ, mục đích buôn lậu; tiền nhập hạt điều có nguồn gốc từ tiền do bạn hàng đưa trước nên đề nghị không tịch thu sung quỹ số tiền này mà chỉ truy thu 5% thuế nhập khẩu. Bị cáo H mới kinh doanh từ năm 2016 nên chưa rành về thủ tục, khi thấy khan hiếm hạt điều thì bị cáo nhập khẩu về bán lại cho các bạn hàng để vừa kiếm lời và vừa để bạn hàng có nguyên liệu sản xuất ra nhân điều bán cho bị cáo; bị cáo không biết về nguồn gốc hàng hoá và ý thức buôn lậu; bị cáo có vai trò bỏ tiền và bán hàng, còn lại việc nhập khẩu đều do bị cáo H1 thực hiện nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò của bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Phan Bá H1 – Luật sư Phan Thanh H4 tranh luận: Bị cáo thông qua N1 mới biết H và vì giúp đỡ H nên mới đồng ý nhập khẩu; sau khi nhập hạt điều thì bị cáo không biết H bán cho ai, được bao nhiêu tiền...; các bị cáo thu lợi bất chính số tiền 465.000.000 đồng nên các bị cáo chỉ chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 188 Bộ luật Hình sự; bị cáo hạn chế hiểu biết về pháp luật, sau khi bị phát hiện đã nộp 200.000.000 đồng thu lợi bất chính và khắc phục hậu quả; ngoài ra bị cáo bị bệnh huyết áp, lipit máu, là gia đình có công cách mạng, bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 188, điểm b, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo nộp trong hạn luật định, về hình thức được xem là hợp lệ nên được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của cấp sơ thẩm: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, người bào chữa cho bị cáo, bị cáo, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra, các cơ quan tiến hành tố tụng dù không thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc các bị cáo bán điều cho bạn hàng với số lượng cụ thể bao nhiêu, giá bán bao nhiêu tiền mỗi tấn nhưng Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát căn cứ vào lời khai thống nhất của bị cáo Ngũ Ngọc H với những người mua hạt điều thô của bị cáo là do thời gian đã lâu nên không nhớ, các bên mua bán sử dụng tiền mặt, cấn trừ tiền hàng... để xác định số tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là 27.624.818.858 đồng và số tiền các bị cáo thu lợi là 465.000.000 đồng để truy tố.
[3] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Ngũ Ngọc H và Phan Bá H1 nhìn nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như bản án sơ thẩm đã quy kết chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Đồng thời xem xét số tiền các bị cáo phải nộp.
Thấy rằng, trên cơ sở nội dung vụ án: Để có nguyên liệu sản xuất trong thời gian khan hiếm hạt điều thô, Ngũ Ngọc H đã bàn bạc với Phan Bá H1 lấy tư cách pháp nhân Công ty T4 của H1 nhập khẩu hạt điều thô có nguồn gốc Châu Phi theo loại hình nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất xuất khẩu (E31) với số lượng 575.115 kg có nguồn gốc xuất xứ từ các nước Bờ Biển N2 và Tanzania trị giá 27.624.818.858 đồng, toàn bộ chi phí nhập khẩu do H chỉ trả. Sau khi nhập khẩu, H1 không đưa hàng về kho của Công ty T4 để sản xuất xuất khẩu theo loại hình E62 mà giao toàn bộ cho H để bán thu lợi bất chính 465.000.000 đồng, trong đó H hưởng 200.000.000 đồng và chia cho H1 265.000.000 đồng. Số hạt điều thô có nguồn gốc xuất xứ từ các nước B Ngã và T3 không nằm trong danh sách 46 nước được phép xuất khẩu thực phẩm có nguồn gốc thực vật vào Việt Nam và số hạt điều này chưa được kiểm định an toàn thực phẩm nên không được phép tiêu thụ tại thị trường nội địa mà buộc phải xuất khẩu theo loại hình E62. Để che giấu hành vi lén tiêu thụ nội địa trái phép số lượng hạt điều thô này, H1 hợp thức bằng việc nhờ Công ty S3 xuất khẩu ủy thác cho Công ty T4 từ số hạt điều do Công ty S3 tự mua trong nước.
Từ đó quy kết: Ngũ Ngọc H và Phan Bá H1 đã có hành vi buôn bán hàng hóa thuộc diện nhập khẩu để sản xuất rồi xuất khẩu, tức là các bị cáo buôn bán hàng nhập khẩu từ khu vực phi thuế quan vào nội địa trái pháp luật 575.155 kg hạt điều thô, trị giá 27.624.818.858 đồng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm vào trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về nhập khẩu và xuất khẩu, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn lậu" được quy định tại khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4] Như vậy, các bị cáo thực hiện hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về hải quan, quản lý ngoại thương, ảnh hưởng xấu đến các hoạt động thương mại lành mạnh trong ngành điều Việt Nam nói chung, uy tín thương hiệu hạt điều Việt Nam trên thế giới.
Các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo H là chủ mưu khởi xướng, trực tiếp thực hiện tất cả các hoạt động từ liên hệ mua hàng, bán hàng và thu lợi, bị cáo H1 là người giúp sức tích cực tạo điều kiện cho H thực hiện tội phạm như cho mượn pháp nhân, đăng ký, làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của H nên tòa cấp sơ thẩm quy kết bị cáo H phải là người chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo H1 là có căn cứ.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng cho các bị cáo:
- [5.1] Tình tiết tăng nặng: Hai bị cáo đã nhập khẩu hạt điều thô nhiều lần vào các ngày 12, 23, 25/10/2017 và 08/02/2018 với giá trị hàng hoá lần lượt là 6.619.634.479,5 đồng, 9.492.923.895 đồng, 7.308.746.308,5 đồng và 4.203.514.175 đồng; sau khi nhận hàng từ cảng về thì các bị cáo mang đi tiêu thụ ngay trong nội địa không qua quá trình tái sản xuất theo loại hình E31. Như vậy, hành vi mỗi lần nhập khẩu hạt điều, mang đi tiêu thụ nội địa đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm buôn lậu và các bị cáo đã thực hiện 04 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội từ hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Luật sư bào chữa cho rằng các bị cáo xác định nhập khoảng 500 tấn điều nên chỉ xác định các bị cáo phạm tội một lần là không phù hợp với hành vi khách quan của các bị cáo khi thực hiện tội phạm (hành vi phạm tội sau cùng cách hành vi phạm tội gần nhất hơn 03 tháng). Cấp sơ thẩm không chấp nhận lời bào chữa này là có căn cứ, bị cáo kháng cáo vấn đề này là không có căn cứ chấp nhận.
- [5.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử cấp sơ thẩm đánh giá: bị cáo H1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính 100.000.000 đồng và khắc phục hậu quả 150.000.000 đồng. Bị cáo H chưa thật sự thành khẩn khai báo, tuy nhiên bị cáo đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, đã nộp 200.000.000 đồng thu lợi bất chính và khắc phục hậu quả 220.000.000 đồng. Từ đó chấp nhận tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Phan Bá H1 đã cung cấp đoạn băng ghi âm cuộc nói chuyện giữa bị cáo với bị cáo H và Hồ Hoàng Khánh N1 để làm cơ sở chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo H nên được xem là tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo H1 cung cấp cho Tòa án tài liệu chứng minh ông Mai Văn P1 - cha vợ của bị cáo - là người có công với cách mạng và bản thân bị cáo đang bị bệnh huyết áp, bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch..., được cấp sơ thẩm xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tình tiết giảm nhẹ tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo H1 không bị người có thẩm quyền kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật, cấp phúc thẩm không có thẩm quyền làm xấu đi tình trạng của bị cáo H1 nên không chấp nhận kháng cáo này của bị cáo Ngũ Ngọc H. Bào chữa cho bị cáo Ngũ Ngọc H còn đưa ra bản phô tô 5 bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử về tội “Buôn lậu” Hội đồng xét xử thấy rằng, đây không phải là án lệ nên không có căn cứ xem xét. Các giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến, Giấy khen của Hội Cựu giáo chức của ông Huỳnh Văn K (cha vợ của bị cáo H) không được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Hành vi phạm tội của các bị cáo trong nội dung vụ án, nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử đối với bị cáo Ngũ Ngọc H bằng mức khởi điểm của khung hình phạt và bị cáo Phan Bá H1 dưới mức khởi điểm của khung hình phạt là tương xứng, không nặng. Hai bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của các bị cáo.
[6]. Biện pháp tư pháp:
H và H1 đã dùng pháp nhân Công ty T4 mở 04 tờ khai theo loại hình E31 tại Chi cục Hải quan C3 nhập khẩu 575.115 kg hạt điều thô, trị giá 27.624.818.858 đồng, sau khi bán hưởng lợi được 465.000.000 đồng. Như vậy, số tiền 27.624.818.858 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Theo đó, bị cáo Ngũ Ngọc H là người trực tiếp bán điều cho bạn hàng và thu về số tiền dùng vào việc phạm tội nên Tòa cấp sơ thẩm buộc bị cáo giao nộp là có căn cứ pháp luật. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngũ Ngọc H về vấn đề này.
Đối với kháng cáo của bị cáo Phan Bá H1 về số tiền nộp khắc phục hậu quả 150.000.000 đồng. Bị cáo cho rằng bị cáo chỉ phải nộp tiền thu lợi bất chính, bị cáo không phải nộp tiền khắc phục hậu quả, do tại phiên tòa sơ thẩm tâm lý không ổn định, trả lời hội đồng xét xử không rõ ràng nên đã ghi thành tiền thu lợi bất chính nộp 100.000.000 đồng và tiền khắc phục hậu quả là 150.000.000 đồng. Kháng cáo này của bị cáo Phan Bá H1 có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
[7] Do kháng cáo của bị cáo Ngũ Ngọc H không được chấp nhận nên phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định. Bị cáo Phan Bá H1 được chấp nhận một phần nên không phải nộp.
[8] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b Khoản 1, 2 Điều 355, Điều 356 và điểm d Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và kháng cáo phần trách nhiệm bồi thường (Biện pháp tư pháp) của bị cáo Ngũ Ngọc H; Giữ nguyên phần hình phạt và phần trách nhiệm bồi thường (Biện pháp tư pháp) đối với bị cáo.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Phan Bá H1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Bá H1 đối với số tiền 150.000.000 đồng khắc phục hậu quả bị cáo không phải nộp, chuyển sang số tiền nộp thu lợi bất chính; Sửa Bản án sơ thẩm số 45/2023/HS – ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đối với số tiền khắc phục hậu quả của bị cáo Phan Bá H1.
Tuyên xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Ngũ Ngọc H và Phan Bá H1 phạm tội “Buôn lậu”
2. Về áp dụng điều luật và hình phạt:
- - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 188; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
- Xử phạt bị cáo Ngũ Ngọc H 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2022 cho đến ngày 07/4/2023.
- - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 188; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 54, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
- Xử phạt bị cáo Phan Bá H1 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2022 cho đến ngày 18/4/2023.
3. Biện pháp tư pháp: Áp dụng các điều 46 và 47 Bộ luật Hình sự,
- Buộc bị cáo Ngũ Ngọc H phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền sử dụng vào việc phạm tội là 27.254.818.858 đồng (Hai mươi bảy tỷ, hai trăm năm mươi bốn triệu, tám trăm mười tám nghìn, tám trăm năm mươi tám đồng) còn chưa nộp.
- Buộc bị cáo Phan Bá H1 tiếp tục nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 165.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu đồng) thu lợi bất chính.
- Bị cáo H1 được chuyển số tiền 150.000.000 đồng đã nộp sang tiền thu lợi bất chính.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 670.000.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi triệu đồng), trong đó có 620.000.000 đồng các bị cáo đã nộp tại Cơ quan điều tra (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0000299 ngày 02/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước) và 50.000.000 đồng bị cáo Phan Bá H1 nộp tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước (theo Phiếu thu ngày 26/9/2023).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án,
- Buộc các bị cáo Ngũ Ngọc H và Phan Bá H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Ngũ Ngọc H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Phạm Trí Tuấn |
Bản án số 361/2024/HS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về buôn lậu
- Số bản án: 361/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Buôn lậu
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngũ Ngọc H và đồng phạm phạm tội “Buôn lậu”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và kháng cáo phần trách nhiệm bồi thường (Biện pháp tư pháp) của bị cáo Ngũ Ngọc H; Giữ nguyên phần hình phạt và phần trách nhiệm bồi thường (Biện pháp tư pháp) đối với bị cáo. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Phan Bá H.
