Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 361/2024/HS-PT

Ngày: 01/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Dung
Các Thẩm phán: Ông Đặng Kim Nhân
Ông Nguyễn Tấn Long

Thư ký phiên toà: Đinh Thị Trang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 322/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo La Tuấn D về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của bị cáo La Tuấn D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

La Tuấn D; Sinh ngày 24/3/2000, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Văn K (đã chết) và bà Hoàng Quế A; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/02/2023, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo La Tuấn D:

Luật sư Võ Hữu D1 – Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; Địa chỉ: Số C N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Lê Quang T, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có kháng cáo, kháng nghị nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 16/02/2023, La Tuấn D cùng với Nguyễn Hữu Mai K1, Hứa Văn T1, Nguyễn Viết T2, Trần Thế Q uống bia tại quán K2, địa chỉ số A T, buôn B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, trong quán lúc này còn có nhóm của Lê Quang T gồm: Tới, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Trí H và một số người khác. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, cả 02 nhóm ra về thì T3 và T1 xảy ra cãi vã nhau. Thấy vậy, nhóm của T kéo T3 đi vào lề đường, còn nhóm của D can ngăn và kéo T1 vào xe ô tô biển số 47A-140.05 của D đang đỗ tại vỉa hè trước quán K2, để D chở T1 về. Khi T1 vào trong xe, D điều khiển xe ô tô chạy nhanh về phía nhóm Lê Quang T thì dừng lại. Thấy vậy, cả 02 nhóm chạy đến chỗ xe ô tô của D, mở cửa xe để nói chuyện nhưng D không mở. Lúc này, do thấy D có biểu hiện không tỉnh táo nên T1 đã xuống xe và bỏ đi bộ. D điều khiển xe ô tô chạy nhiều vòng phía trước quán K2 rồi bất ngờ tăng ga tông vào nhóm của T và những người khác đang đi ở lòng đường và đứng sát vỉa hè trên đường trước quán K2 thì những người này tránh được. Do bực tức về hành vi điều khiển xe ô tô tông vào mình và nhiều người khác nên Lê Quang T đã nhặt 01 viên đá ném trúng vào vùng gần giữa kính chắn gió phía trước xe ô tô của D làm rạn nứt kính. Lúc này, D điều khiển xe ô tô đi ra hướng tỉnh lộ 15 để đi về nhà. Khi đi được một đoạn, do bực tức việc T ném bể kính nên D điều khiển xe ô tô quay lại để tông nhóm của T. Khi quay lại, D điều khiển xe theo hướng từ đường N đến đường T, hướng về trước quán K2. Khi thấy nhóm của T và nhiều người khác đang đứng và đi lại trên đường, trên vỉa hè và trước quán K2, thì D điều khiển xe ô tô chạy với tốc độ nhanh tông thẳng vào nhóm của T nhưng nhóm của T tránh được. Do đang chạy với tốc độ quá lớn nên xe ô tô do D điều khiển tiếp tục lao nhanh về phía đối diện trước quán K2, nơi có nhiều người đang đứng, rồi tông trúng vào người anh Bùi Đình H1 (là người đang đứng xem không thuộc nhóm bị cáo D, bị cáo T), làm anh H1 bị thương tích 66%. Xe ô tô tiếp tục tông vào bồn hoa và làm vỡ kính quán K2, của chị Vũ Thị Thủy N làm chiếc xe bị bật ngược lại sát vỉa hè trước quán. Thấy vậy mọi người đưa D về nhà, còn anh H1 được đưa ngay đến bệnh viện để cấp cứu và điều trị.

Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 284/TgT-TTPY ngày 22/02/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Đ kết luận thương tích của anh Bùi Đình H1:

  • Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 63% (sáu mươi ba phần trăm).
  • Vật tác động: Vật tày, vật tày có cạnh cứng.
  • Kết luận khác: Tổn thương đứt mất đoạn gân duỗi các ngón chân phải làm mất vận động khớp cổ chân phải (bàn chân duỗi); đứt bán phần cơ tứ đầu đùi đã khâu nối hiện tại chưa đánh giá được mức độ vận động nên chưa tính tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể số 491/KLTTCT-PY ngày 29/9/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y kết luận thương tích của anh Bùi Đình H1 với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 66% (sáu mươi sáu phần trăm).

Bản Kết luận định giá tài sản số 2086/KL-HĐĐG ngày 12/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đắk Lắk, kết luận: 02 tấm kính cường lực loại thường, màu trắng bị bể vỡ có chiều cao 2,3m, chiều rộng 1,1m, độ dày 8 ly, tại thời điểm vào ngày 16/02/2023, có trị giá 1.771.000 đồng.

Bản Kết luận định giá tài sản số 2637/KL-HĐĐG ngày 21/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 47A-140.05, nhãn hiệu Honda City, tại thời điểm vào ngày 16/02/2023 có giá trị tài sản 137.620.000 đồng; thiệt hại cửa kính chắn gió phía trước của xe ô tô 47A-140.05, nhãn hiệu Honda City tại thời điểm vào ngày 16/02/2023, có giá trị tài sản 7.800.000 đồng.

Bản Kết luận giám định số 992/KL-KTHS ngày 13/10/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ, kết luận về đối tượng giám định: Tập tin video (ký hiệu: A): Không phát hiện thấy có dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa; trích xuất được 21400 tập tin hình ảnh từ video.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Xử phạt bị cáo La Tuấn D 15 (mười lăm) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 17/02/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần hình phạt đối với Lê Quang T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo.

Ngày 21/5/2024, bị cáo La Tuấn D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Tòa án sơ thẩm tuyên bị cáo về tội “Giết người” là đúng người, đúng tội, đúng khung hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm có tình tiết mới: Ông bà của bị cáo có Huân chương kháng chiến, mẹ bị cáo nộp thêm tiền khắc phục nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
  • Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số, gia đình có công cách mạng, bị cáo tác động gia đình nộp thêm tiền khắc phục cho bị hại, kính đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức án có lợi cho bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng.
  • Bị cáo giữ nguyên yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bị cáo đúng hình thức, trong hạn luật định và đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo La Tuấn D tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; những người làm chứng; kết luận giám định, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong vụ án có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 23 giờ ngày 16/02/2023, tại trước quán K4, địa chỉ: số A T, buôn B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, La Tuấn D đã có hành vi điều khiển xe ô tô với vận tốc lớn cố ý tông vào nhóm người đang đứng ở khu vực này, nhưng do mọi người né được, còn riêng anh H1 bị xe tông vào người gây thương tích 66%. Hành vi của bị cáo La Tuấn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, với 02 tình tiết định khung tăng nặng: “Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm l, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự như Tòa án sơ thẩm nhận định và xét xử là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm sức khỏe của bị hại, ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo D: Bị cáo có nhân thân tốt, sau khi gây án đã ra đầu thú, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình là người có công với cách mạng quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt được quy định tại Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự nên xử phạt bị cáo D với mức án 15 năm tù. Xét, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận được biên lai khắc phục thêm tiền cho bị hại Bùi Đình H1, các tài liệu thể hiện ông bà nội, ngoại của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến các hạng và mẹ của bị cáo được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen đạt thành tích xuất sắc trong công tác giáo dục 05 năm liền (từ năm học 2016-2017 đến năm học 2020-2021). Đây là những tình tiết mới, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp.

[4] Chấp nhận quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát cũng như người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo La Tuấn D, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

[1] Áp dụng điểm l, n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15; khoản 1, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo La Tuấn D 14 (mười bốn) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 17/02/2023.

[2] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk (03);
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk (03);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - TTG CA tỉnh Đắk Lắk (02);
  • - Bị cáo (TTG giao cho bị cáo);
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - UBND xã Ea Nam, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk (thay cho việc thông báo bằng văn bản);
  • - Lưu HSVA, PHCTP, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Ngọc Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 361/2024/HS-PT ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự (giết người)

  • Số bản án: 361/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo La Tuấn D, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger