TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 361/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/12/2023
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Cảnh, ông Hồ Bá Võ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 320/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/10/2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 343/2023/QÐST-HNGĐ ngày 28/11/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1992. Địa chỉ: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Cao Văn P, sinh năm 1990. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/7/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị Nguyễn Thị N và anh Cao Văn P kết hôn vào ngày 21/12/2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mẫu thuẫn, anh P đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ đó cho đến nay không liên lạc, quan tâm đến vợ con. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình, quan điểm khác nhau, ngoài ra còn có mẫu thuẫn giữa chị và bố mẹ chồng. Nay chị N không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Văn P.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Cao Văn P có một con chung là cháu Cao Nguyễn Gia B, sinh ngày 06/7/2017, hiện cháu đang ở với chị N. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Cao Văn P: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh P thông qua ông Cao Văn L là bố đẻ của anh P và niêm yết theo quy định. Anh P đã biết chị N yêu cầu ly hôn, nuôi con chung chưa thành niên nhưng hiện anh P vắng mặt, không có ý kiến gửi cho Tòa án.
Tại Biên bản xác minh ngày 28/11/2023, ông Cao Văn L trình bày: Ông là bố đẻ của anh Cao Văn P. Hiện nay, anh P đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Anh P thường xuyên liên lạc về với gia đình nhưng anh P không cung cấp địa chỉ của anh P tại Đài Loan cho ông nên ông không biết địa chỉ của anh P để cung cấp cho Tòa án. Ông L đã thông báo cho anh P biết việc chị N làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án, anh P cũng đồng ý ly hôn và đồng ý giao con chung cho chị N nuôi dưỡng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Cao Văn P; giao con chung Cao Nguyễn Gia B cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu nên không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu. Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Công văn số 19068/QLXNC-P5 ngày 25/7/2023 của Cục Q và lời trình bày của ông Cao Văn L là bố đẻ của anh Cao Văn P thì có căn cứ xác định hiện nay anh Cao Văn P đang cư trú tại nước ngoài và vẫn liên lạc về với gia đình. Anh P đã biết được việc chị N làm đơn xin ly hôn đối với anh P tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nhưng anh P không cung cấp địa chỉ và gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh P cũng không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh P cho Tòa án. Do đó, việc anh Cao Văn P vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh P đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị N có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Cao Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 anh P đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình, quan điểm khác nhau, vợ chồng không còn liên lạc, quan tâm đến nhau nữa. Nay, chị Nguyễn Thị N xác định tình cảm không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Văn P. Tòa án đã thông báo cho anh P biết chị N xin ly hôn với anh P thông qua ông Cao Văn L là bố đẻ của anh P nhưng anh P cũng không có ý kiến, không liên lạc với Tòa án thể hiện mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Do đó, xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị N, anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Cao Văn P.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Cao Văn P có một con chung là cháu Cao Nguyễn Gia B, sinh ngày 06/7/2017, hiện cháu đang ở với chị N. Anh P đang ở nước ngoài không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị Nguyễn Thị N đang ở Việt Nam, có nguyện vọng được nuôi con nên cần giao cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, hiện chị N chưa yêu cầu và anh P cũng chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Cao Văn P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu giải quyết, anh Cao Văn P cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Cao Văn P.
2. Về con chung: Giao cháu Cao Nguyễn Gia B, sinh ngày 06/7/2017 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị N chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Anh Cao Văn P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
4. Án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004486 ngày 18/10/2023.
5. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Bị đơn anh Cao Văn P đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
Bản án số 361/2023/HNGĐ-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 361/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn bị đơn; yêu cầu được trực tiếp nuôi o1 con chung; không yêu cầu cấp dưỡng; không yêu cầu giải quyết tài sản chung.
