Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 360/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 26-12-2023

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Văn Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hồ Cảnh
Ông Trần Ngọc Đăng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 418/2023/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 380/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Cung Thị P, sinh năm 1993;
  • Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm T (nay là xóm A), xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An;
  • Địa chỉ cư trú hiện tại: Số D, đường G, quận Đ, thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1993;
  • Địa chỉ cư trú: Xóm T (nay là xóm A), xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ), nguyên đơn chị Cung Thị P trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An vào năm 2012. Sau khi kết hôn, những năm đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng sau đó, vợ chồng bắt đầu nảy sinh nhiều tranh cãi, mâu thuẫn. Do điều kiện gia đình nên chị phải đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Trong quá trình sinh sống và làm việc tại Đài Loan thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không có tiếng nói chung, khoảng cách địa lý xa xôi gây khó khăn cho cả hai khi giải quyết việc gia đình. Đến nay, mâu thuẫn ngày càng thường xuyên và trầm trọng hơn. Mặc dù chị và anh H đã nhiều lần bàn bạc, gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả. Hiện tại, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Phương T, sinh ngày 17/7/2013 và Nguyễn Hữu L, sinh ngày 11/02/2016. Hiện nay, các con đang ở với anh H và được anh H chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị và anh H thỏa thuận giao các con cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh H thống nhất, chị cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Cung Thị P hiện đang cư trú và làm việc tại Đài Loan chưa có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho anh Phạm Tiến Đ, địa chỉ cư trú: Thôn H, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt chị. Tuy nhiên vào ngày 26/11/2023, chị P về Việt Nam và đến Tòa án viết bản tự khai như các nội dung nêu trên. Sau đó, chị lại tiếp tục sang Đài Loan để làm việc nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Theo bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:

Anh và chị Cung Thị P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An vào năm 2012. Sau khi kết hôn, những năm đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng sau đó, vợ chồng bắt đầu nảy sinh nhiều tranh cãi, mâu thuẫn nên chị P đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Thời gian chị P ở Đài Loan thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không có tiếng nói chung, khoảng cách địa lý xa xôi gây khó khăn cho cả hai khi giải quyết việc gia đình. Hiện tại, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng thường xuyên và trầm trọng hơn, không có cách giải quyết. Nay chị P làm đơn ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Phương T, sinh ngày 17/7/2013 và Nguyễn Hữu L, sinh ngày 11/02/2016. Hiện nay, các con đang ở với anh và được anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, anh và chị P thỏa thuận giao các con cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị P thống nhất, chị Cung Thị P cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nhưng do bận công việc nên anh có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Cung Thị P đang cư trú tại Đài Loan đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì chị Cung Thị P không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài và chị P đề nghị không tiến hành hòa giải là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Cung Thị P đang cư trú tại Đài Loan, chưa có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị P ủy quyền cho anh Phạm Tiến Đ, địa chỉ cư trú: Thôn H, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng nộp đơn ly hôn, bản tự khai, tài liệu (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và chị đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Tuy nhiên vào ngày 26/11/2023, chị P về Việt Nam và đến Tòa án viết bản tự khai. Sau đó, chị lại tiếp tục sang Đài Loan để làm việc nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu và chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cung Thị P và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An vào ngày 11 tháng 12 năm 2012, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, những năm đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng sau đó, vợ chồng phát sinh nhiều tranh cãi, mâu thuẫn nên chị P đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Trong quá trình sinh sống và làm việc tại Đài Loan thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không có tiếng nói chung, khoảng cách địa lý xa xôi nên tình cảm dần mất đi. Hiện tại, Chị P và anh H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị P nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Cung Thị P và anh Nguyễn Văn H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Cung Thị P yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nên chấp nhận.

[3]. Về con chung: Chị Cung Thị P và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung. Nay ly hôn, chị P và anh H thỏa thuận: Anh H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Nguyễn Phương T, sinh ngày 17/7/2013 và Nguyễn Hữu L, sinh ngày 11/02/2016. Chị P thoả thuận cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 4.000.000 đồng đến khi các con chung trưởng thành. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa án ghi nhận. Tuy nhiên, do anh H không yêu cầu thi hành ngay về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con nên việc thi hành khoản tiền cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Cung Thị P và anh Nguyễn Văn H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị Cung Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39; Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;

Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Cung Thị P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cung Thị P và anh Nguyễn Văn H được ly hôn.

2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:

Chị Cung Thị P và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung;

Giao cho anh Nguyễn Văn H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Nguyễn Phương T, sinh ngày 17/7/2013 và Nguyễn Hữu L, sinh ngày 11/02/2016. Chị Cung Thị P thỏa thuận có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), tính từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/12/2023) cho đến khi các con đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Sau khi ly hôn, chị Cung Thị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Cung Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị P đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001371 ngày 28/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Cung Thị P còn phải nộp 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con (chưa nộp).

5. Về quyền kháng cáo: Chị Cung Thị P có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự Việt Nam.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự Việt Nam./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Đ, huyện Y;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 360/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 360/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Cung Thị P, Nguyễn Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger