Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 360/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06 - 9 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Duy Bảo
2. Ông Trần Mai Khanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Phạm Thị Bằng Giang; Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2024/HNGĐST ngày 09 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 333/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 99/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị N, sinh năm 1993; Nơi thường trú: xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1988; Nơi thường trú: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; Nơi thường trú: xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Đài Loan, không rõ địa chỉ cụ thể. Vắng mặt (lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 07/12/2024, bản tự khai ngày 19/7/2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Ngô Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/11/2015 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến tháng 03/2017, anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Quá trình đi xuất khẩu lao động, anh T có đi về Việt Nam một vài lần vào khoảng năm 2019, tháng 01/2023, sau đó sang làm việc tại Đài Loan lần cuối vào khoảng tháng 04/2023. Trong thời gian anh T đi xuất khẩu lao động, do khoảng cách về địa lý, vợ chồng thiếu sự tin tưởng về tình cảm, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Mâu thuẫn vợ chồng gay gắt sau khi anh T về Việt Nam vào khoảng tháng 01/2023 (sau khi anh T nghỉ phép về Việt Nam), trong thời gian này vợ chồng thường xuyên cãi vã, xô xát, xung đột gay gắt với nhau. Đến tháng 4/2023, anh T sang lại Đài Loan để làm việc, từ đó đến nay chị và anh T không còn liên lạc với nhau. Anh T chỉ liên lạc cho bố mẹ của anh T để hỏi thăm tình hình con cái. Do vợ chồng từ nhiều năm tồn tại mâu thuẫn nên chị không sống chung với gia đình chồng. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Đồng thời, từ khi mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng đến nay, vợ chồng không còn liên lạc với nhau, anh T chỉ liên lạc về cho bố mẹ đẻ của anh T nên chị không biết được địa chỉ cụ thể của anh T tại Đài Loan để cung cấp. Đề nghị Toà án tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ về thông tin, địa chỉ cụ thể của anh T tại Đài Loan từ ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2; Địa chỉ: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (bố mẹ đẻ anh Nguyễn Văn T) để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn T có một con chung là cháu: Nguyễn Văn Cảnh H3, sinh ngày 04/9/2016. Từ khi anh T đi xuất khẩu lao động năm 2017 cho đến nay con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng nên nguyện vọng của chị là được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H3 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà bị đơn là anh Nguyễn Văn T vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 11191/QLXNC-P3 ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Cục Q – Bộ C thì: Theo dữ liệu Cục Q quản lý: có trường hợp Nguyễn Văn T, sinh ngày 08/06/1985 tại Nghệ An, CMND số [...], khai hộ khẩu thường trú tại: N, N, Nghệ An; đã xuất nhập cảnh 07 lần, lần cuối sử dụng hộ chiếu B5196153 để xuất cảnh ngày 20/01/2019 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh T ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh T vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.

Tại “Biên bản xác minh” ngày 23/07/2024, ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 (bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T) trình bày: Ông, bà đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và 02 Công văn số 406; Công văn số 611 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh T và thông báo việc ly hôn của chị N. Anh T và chị N kết hôn với nhau vào năm 2015. Năm 2016 thì sinh cháu H3 và trong thời gian năm 2016 anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Năm 2019 chị N đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Cuối năm 2022, chị N về Việt Nam. Quá trình chị N, anh T ở nước ngoài thì cháu H3 ở cùng ông bà. Sau khi chị N về Việt Nam thì cháu H3 ở với mẹ cho đến nay. Khi anh T ở nước ngoài đến giờ thì thường xuyên liên hệ với ông bà, hỏi thăm sức khoẻ, tình hình gia đình ở nhà. Khi anh T điện thoại về thì ông bà có thông báo cho anh T về việc chị N làm đơn ly hôn; Toà án đã gửi thông báo thụ lý và công văn của Toà án. Anh T biết chị N ly hôn và không có ý kiến gì, còn về địa chỉ, nơi cư trú anh T không thông báo, không nói cho ông bà biết nên ông bà không biết địa chỉ cư trú của anh T ở Đài Loan để cung cấp cho Toà án. Về con chung: anh T và ông bà có nguyện vọng để anh T nuôi cháu. Thời gian cháu H3 ở cùng ông bà thì ông bà không yêu cầu vợ chồng anh T, chị N trả tiền công chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H3. Ông bà tuổi cao, sức yếu, đường xá xa xôi nên đề nghị Toà án không triệu tập ông bà đến Toà án. Trường hợp Toà án triệu tập ông bà xin vắng mặt tất cả các buổi triệu tập, xét xử của Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • + Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Ngô Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • + Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Cảnh H3, sinh ngày 04/9/2016 cho chị Ngô Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn T do chị N chưa có yêu cầu.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Toà án không xem xét.

+ Về án phí: Nguyên đơn chị Ngô Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 07/12/2023, chị Ngô Thị N có đơn khởi kiện gửi tới Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì chị Ngô Thị N và anh Nguyễn Văn T đều có nơi đăng ký thường trú tại xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nhưng anh T đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ khoảng năm 2016 đến nay chưa về. Theo kết quả xác minh tại Cục Q – Bộ C thì anh Nguyễn Văn T đã xuất nhập cảnh 07 lần, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Như vậy, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Nguyễn Văn T mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn T hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nhưng đã xuất khẩu lao động tại Đài Loan, hiện không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ cụ thể hiện nay tại nước ngoài. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh T tại nước ngoài nhưng theo ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 (bố mẹ đẻ của anh T) thì anh T vẫn thường xuyên liên lạc với ông bà; ông H1 và bà H2 đã thông tin cho anh T được biết về việc cung cấp địa chỉ của anh T tại nước ngoài và ý kiến về việc giải quyết ly hôn với chị N nhưng anh T vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn T.

[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị N:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Ngô Thị N và anh Nguyễn Văn T được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, từ năm 2023 đến nay vợ chồng đã không liên lạc, không quan tâm đến nhau cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án, anh T lại không có mặt tại Toà án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian mà vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau là không dài, anh T đã đi xuất khẩu lao động nhiều năm nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng nhưng cả hai bên đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị N cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị N yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung: Theo lời khai của chị N và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Ngô Thị N và anh Nguyễn Văn T có 01 người con chung là cháu Nguyễn Văn Cảnh H3, sinh ngày 04/9/2016, hiện nay đang do chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị N đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H3 và không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con. Tại Biên bản xác minh, ông H1 và bà H2 trình bày: anh T và ông bà cũng có nguyện vọng để anh T nuôi con. Hội đồng xét thấy: Việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, yêu cầu được nuôi con của đương sự là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, cháu H3 hiện nay đang sinh sống cùng với chị N, bản thân cháu cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Mặt khác, anh T hiện nay đang ở nước ngoài, ông H1 và bà H2 (bố mẹ anh T) không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh T tại nước ngoài. Vì vậy, cần giao cháu H3 cho chị N tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Chị N xin được trực tiếp nuôi con nhưng không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, chị N không yêu cầu Toà án giải quyết, anh T cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở để xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.

[4] Về án phí: Chị Ngô Thị N phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ngô Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là Nguyễn Văn Cảnh H3, sinh ngày 04/9/2016 cho chị Ngô Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Ngô Thị N không yêu cầu và anh Nguyễn Văn T chưa có ý kiến nên Toà án chưa xem xét.

Anh Nguyễn Văn T có quyền đi lại thăm nom, không ai được cản trở anh Nguyễn Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Thị N không yêu cầu và anh Nguyễn Văn T cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Ngô Thị N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai số 0012784 ngày 16/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Ngô Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Hưng Mỹ, huyện Hưng Nguyên (theo Giấy ĐKKH số 46/2015 ngày 14/11/2015);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 360/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 360/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa chị N và anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger