Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 360/2024/DS-PT

Ngày: 04/7/2024

V/v: “Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vũ Đông

Ông Ong Thân Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Thành, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Đỗ Quyên, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử số 4 trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 524/2023/TLPT-DS ngày 08/12/2023 về “Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”, do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 6429/2024/QĐPT ngày 19 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1952; địa chỉ: Số nhà B, ngõ C, Tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Chính M, sinh năm 1963; địa chỉ: Tập thể Bệnh viện Đ2, huyện P, thành phố Hà Nội (Giấy ủy quyền lập ngày 09/3/2023 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Nhân B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh), có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đỗ Thị T: Ông Đỗ Hữu B1; địa chỉ: Số H, ngõ V, phố T, quận Đ, thành phố Hà Nội, có mặt.

Bị đơn:

  • - Anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 1974; địa chỉ: Khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Duy T1: Chị Nguyễn Thanh L2, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh (theo Giấy ủy quyền ngày 29/02/2024); vắng mặt.
  • - Chị Nguyễn Thanh L2, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • - Anh Đỗ Văn T2, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, có mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền của anh T2: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988 và chị Nguyễn Mai A, sinh năm 1992 (theo Giấy ủy quyền ngày 29/02/2024); địa chỉ: P, U, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh T3 - Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ, xin xét xử vắng mặt.

4. Người làm chứng:

  • - Ông Trần Văn D và bà Phạm Thị Đ đều có địa chỉ: Tổ C, khu C, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • - Ông Tô Trọng Đ1 và bà Đỗ Thị L đều có địa chỉ: Số nhà B, tổ I, ngõ C, khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • - Bà Bùi Thị C, địa chỉ: Tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Ngọc Q, địa chỉ: Khu V, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Nhân B, địa chỉ: Số nhà A, đường H, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • - Ông Phan Kim L1, địa chỉ: Số nhà A, tổ I, khu V, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • - Ông Trần Bá S, địa chỉ: Tổ A, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • - Bà Vũ Thị H1, địa chỉ: Số nhà A, nhõ F, tổ F, khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng người được ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Phan Chính M trình bày:

Ngày 25/12/1997, bà Đỗ Thị T mua của ông Trần Văn D và bà Phạm Thị Đ trú tại tổ C, khu C, thị trấn M, thị xã Đ 04 gian nhà trên thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11 diện tích 395,7m² tại địa chỉ ngõ C, tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ; hai bên có lập giấy biên nhận mua bán, bà T trực tiếp giao tiền cho vợ chồng ông D, bà Đ trước sự chứng kiến của vợ chồng ông D, ông Nguyễn Ngọc Q, bà Bùi Thị C. Sau khi mua, bà T quản lý sử dụng liên tục và cùng các con sinh sống trên thửa đất. Năm 1999, anh Nguyễn Duy T1 (con trai bà T) lấy vợ là chị Nguyễn Thanh L2; năm 2001, bà T cho vợ chồng anh T1 về ở cùng trên thửa đất này.

Khi nhà dột nát không thể ở được, chị em ruột bà T hùn tiền cho bà T để làm một túp lều nhỏ để ở. Lúc này, anh T1 uống rượu say đe dọa bà T, bắt ép bà T ký vào tờ giấy có nội dung làm nhà nhờ và đe dọa nếu bà T nói với ai thì T1 sẽ giết bà T.

Ngày 28/3/2022, chị Nguyễn Thanh L2 sang nhà nói với bà T là vợ chồng chị đã bán thửa đất của bà T nêu trên cho ông Đỗ Văn T2 ở Thái Bình và đuổi bà T ra khỏi nhà. Từ hôm đó, có các cuộc điện thoại lạ quấy rối, đe dọa bà T phải dọn ra khỏi nhà.

Khi tìm hiểu, bà T được biết thửa đất của bà đã bị ông Tô Trọng Đ1 và vợ là Đỗ Thị L không biết bằng cách nào đã chuyển nhượng thửa đất của bà T cho vợ chồng anh T1, chị L từ tháng 6/2017.

Bà T đã làm đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Quá trình giải quyết vụ án, bà T được biết vợ chồng anh T1, chị L đã chuyển nhượng thửa đất của bà cho người có tên là Đỗ Văn T2, sinh năm 1990, Hợp đồng chuyển nhượng công chứng số 4181, quyển số 05/2022.TP/CCSCC/HĐGD ngày 22/3/2022 và đăng ký biến động đất đai ngày 29/4/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Trước đó, bà T đã có đơn đề nghị xem xét và ngăn chặn. Ngày 22/4/2022, UBND thị xã Đ đã có Văn bản số 75/UBND-TD gửi Phòng Tài nguyên và môi trường thị xã Đ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ và UBND phường Y về việc giải quyết đơn của bà Đỗ Thị T. Nhưng ngày 29/4/2022, Phòng Tài nguyên và môi trường thị xã Đ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ vẫn thực hiện đăng ký biến động đất đai của bà T cho người khác.

Bà T đề nghị Tòa án giải quyết:

  • - Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 với anh Đỗ Văn T2 vô hiệu và không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
  • - Tuyên hủy đăng ký biến động đất đai ngày 29/4/2022 từ anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 sang anh Đỗ Văn T2.
  • - Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số CG 328970, số vào số cấp GCN: CH 04879 do UBND thị xã Đ cấp ngày 06/6/2017 mang tên Nguyễn Duy T1 và Nguyễn Thanh L2.
  • - Tuyên trả lại đất và công nhận diện tích đất trên là của bà T; nếu được bà sẽ có trách nhiệm thanh toán cho anh T1 và chị Nguyễn Thanh L2 giá trị ngôi nhà một tầng mái bằng, cộng công trình phụ do vợ chồng anh T1, chị L2 xây dựng theo giá trị do Hội đồng định giá tài sản ngày 28/8/2023 đã xác định.

Bị đơn là chị Nguyễn Thanh L2 và anh Nguyễn Duy T1 (do chị L2 đại diện theo ủy quyền) trình bày tại bản khai ngày 10/3/2023:

Tháng 12/1999, chị L2 kết hôn cùng anh Nguyễn Duy T1 và về ở trên thửa đất từ đó đến nay. Năm 1997, anh T1 có mua 03 gian nhà thanh lý của ông D, bà Đ. Năm 2000, ông Tô Trọng Đ1 và bà Đỗ Thị L cho vợ chồng chị L thêm 01 gian nhà thanh lý có kèm theo hóa đơn mua nhà. Trong quá trình ở, vợ chồng chị L đã xây tường bao quanh, xây nhà kiên cố và sử dụng ổn định, vợ chồng chị L đã kê khai và được Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Đến năm 2014, bà T dẫn con dâu đi vay nợ làm ăn bị vỡ nợ nên nhờ em gái sang hỏi vợ chồng chị L cho ở nhờ, nhưng bà T không ở cố định, đóng cửa để đấy từ năm 2018. Đến tháng 3/2018, chị Loan báo tin cho bà T là do điều kiện kinh tế chồng chị L đã chuyển nhượng thửa đất cho ông Đỗ Văn T2 ở T, Thái Bình. Bà T vẫn động viên và đồng ý cho vợ chồng chị L bán. Nay bà T khởi kiện vợ chồng chị L, chị L không đồng ý với nội dung khởi kiện của bà T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND thị xã Đ do ông Phạm Anh T3 là người đại diện theo ủy quyền trình bày tại bản khai ngày 10/3/2023:

Ngày 06/3/2017, anh Nguyễn Duy T1 cùng vợ là chị Nguyễn Thanh L2 nộp đơn đăng ký đề nghị cấp GCNQSDĐ ở cho diện tích 395,7m² đất tại Trung tâm hành chính công thị xã Đ; kê khai nguồn gốc đất trong hồ sơ là “đất của ông Tô Trọng Đ1 mua nhà thanh lý XNXL 4 cũ từ năm 1989, nhận chuyển nhượng từ năm 2000” kèm theo Phiếu thu số 62 mang tên Tô Trọng Đ1 với nội dung nộp tiền mua nhà. Sau khi tiếp nhận, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ đã chuyển hồ sơ cấp GCNQSDĐ của anh Nguyễn Duy T1 đến UBND phường Y để thực hiện việc lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc sử dụng đất; thực hiện niêm yết công khai, thông báo công khai hồ sơ cấp GCNQSDĐ với thời hạn 15 ngày tại trụ sở UBND phường Y.

Ngày 21/3/2017, UBND phường Y đã xác nhận tại đơn đăng ký cấp GCNQSDĐ với nguồn gốc sử dụng đất là đất của ông Tô Trọng Đ1 mua nhà thanh lý Xí nghiệp xây lắp 4 cũ từ năm 1989, nhận chuyển nhượng từ năm 2000; đất không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.

Ngày 02/5/2017, ông Tô Trọng Đ1 có viết giấy xác nhận về việc đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở cho anh Nguyễn Duy T1 vào ngày 15/01/2000 và được UBND phường Y xác nhận chữ ký của ông Tô Trọng Đ1 và vợ là bà Đỗ Thị L là đúng sự thật.

Sau khi thực hiện các thủ tục, ngày 06/6/2017, anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 được UBND thị xã Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04879 với diện tích là 395,7m² đất ở.

Ngày 07/4/2022, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của anh Nguyễn Duy T1 cùng vợ là chị Nguyễn Thanh L2 với anh Đỗ Văn T2 với thửa đất tại khu Y, phường Y nêu trên. Sau khi tiếp nhận giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước các khoản nộp tiền lệ phí trước bạ nhà, đất, thuế thu nhập cá nhân chuyển nhượng bất động sản; ngày 29/4/2022, Văn Phòng đăng ký quyền sử dụng đất ký xác nhận nội dung biến động về người sử dụng đất trên GCNQSDĐ. Sau đó anh Đỗ Duy T4 nhận kết quả theo quy định.

UBND thị xã Đ cho rằng việc cấp GCNQSDĐ số CG 328970, số vào số CH04879 cấp ngày 06/6/2017 mang tên anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 là thực hiện theo khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013, điểm a khoản 1 Điều 20 và Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của anh Nguyễn Duy T1 cùng vợ là chị Nguyễn Thanh L2 và ông Đỗ Duy T5 đối với thửa đất tại khu Y, phường Y nêu trên, và thực hiện việc luân chuyển hồ sơ sang Chi cục thuế thị xã để xác định nghĩa vụ tài chính theo quy định là đảm bảo theo quy định tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; khoản 11 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ T8.

Ngày 16/4/2022, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tiếp nhận được đơn kiến nghị của bà Đỗ Thị T với nội dung xem xét lại việc cấp GCNQSDĐ của bà Đỗ Thị T cho ông Tô Trọng Đ1, không phải nội dung xem xét việc cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Duy T1; ngày 22/4/2022, UBND thị xã Đ có Văn bản số 75/UBND-TD về việc giải quyết đơn kiến nghị của bà Đỗ Thị T, với nội dung kiến nghị UBND thị xã Đ thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho ông ông Nguyễn Duy T1 và bà Nguyễn Thanh L2.

Nay người khởi kiện yêu cầu “Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Duy T1 và Nguyễn Thanh L2 với ông Đỗ Văn T2 vô hiệu. Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 328970, số vào số cấp GCN: CH 04879 do UBND thị xã Đ cấp ngày 06/6/2017 mang tên Nguyễn Duy T1 và Nguyễn Thanh L2”, UBND thị xã Đ đề nghị Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đối với phần diện tích đất trên có xây dựng nhà cấp bốn mái tôn và công trình phụ bà T đang sử dụng xây trên diện tích đất 64m², căn cứ khoản 1 Điều 4 quy định ban hành kèm theo Quyết định số 39/2021/QĐ-UBND ngày 29/7/2021 của UBND tỉnh Q thì đủ điều kiện tách thửa.

Bị đơn anh Đỗ Văn T2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác của Tòa án nhưng đều vắng mặt, không có lý do.

Người làm chứng:

  • - Ông Trần Văn D khai: Năm 1987, vợ chồng ông D, bà Đ được Xí nghiệp X thanh lý 04 gian nhà tập thể giáp với gian nhà tập thể của vợ chồng ông Tô Trọng Đ1 và Đỗ Thị L được thanh lý. Ông D có phá đi 01 gian nhà phần giáp với gian nhà ông Đ1, bà L để làm công trình phụ. Đến năm 1997, do không có nhu cầu sử dụng nên đã bán lại cho bà Đỗ Thị T. Khi đó, bên bán có vợ chồng ông Trần Văn D và bà Phạm Thị Đ, bên mua có bà Đỗ Thị T; có 02 người làm chứng là anh Nguyễn Ngọc Q và bà Bùi Thị C. Tại Giấy biên nhận ngày 29/9/1997 ghi ông D nhượng lại 03 gian nhà thanh lý cho cháu Nguyễn Duy T1 công nhân mỏ Yên Tử, Công ty T9 với giá 04 triệu đồng chẵn. Hiện tại cháu T1 mới giao 03 triệu đồng, còn 01 triệu đồng đến tháng 2 âm lịch 1998 giao nốt. Ghi như vậy là ghi theo yêu cầu của bà Đỗ Thị T, bà T nói mua nhà thanh lý cho con là Nguyễn Duy T1.
  • - Bà Bùi Thị C khai: Bà là hàng xóm của ông Trần Văn D, bà Phạm Thị Đ và ông Tô Trọng Đ1, bà Đỗ Thị L. Do thời gian đã lâu nên bà C không nhớ rõ cụ thể là ngày tháng năm nào; hôm đó, bà Đỗ Thị L gọi bà C sang nhà ông D bà Đ để làm chứng việc cháu T1 mua lại căn nhà cấp bốn (không nhớ mấy gian) của ông D bà Đ, trả số tiền 3.000.000đ. Đến năm 2022, bà T và bà T6 là em bà T có mang một số giấy tờ, (bà C không đọc nội dung) và hỏi đây có phải chữ ký của dì không, bà C nhìn thấy chữ ký của mình và nhận ra ngay. Bà C cũng không ký thêm bất kỳ giấy tờ nào. Sau khi được xem 02 giấy biên nhận mua bán nhà đất đều có chữ ký người làm chứng tên Bùi Thị C, bà C xác nhận cả hai chữ ký đó đều là chữ ký của bà C.
  • - Ông Nguyễn Ngọc Q khai: Ông với ông Trần Văn D và bà Phạm Thị Đ không có họ hàng gì. Do đi làm tại Quảng Ninh, không có chỗ ở, qua người giới thiệu ông đến ở nhờ nhà ông D, bà Đ. Còn đối với bà Đỗ Thị T và vợ chồng anh Nguyễn Duy T1, chị Nguyễn Thanh L2 thì ông không có họ hàng, không quen biết. Việc ông D, bà Đ bán đất cho bà Đỗ Thị T, ông không được chứng kiến từ đầu. Hôm đó vào khoảng tháng 10/1997, khi đi làm về thấy ông D, bà Đ bảo ông Q ký là người làm chứng thì ông đồng ý ký. Ngoài ông ra thì ông không nhớ hôm đó còn có ai khác làm chứng nữa không. Khi ký làm chứng, ông chỉ ký mà không đọc nội dung giấy biên nhận.
  • - Bà Đỗ Thị L khai: Bà là em gái ruột của bà Đỗ Thị T, là dì ruột của anh Nguyễn Duy T1, chị Nguyễn Thanh L2 là cháu dâu của bà. Bà không được làm chứng việc mua bán nhà đất giữa ông D, bà Đ với bà T. Chồng bà là ông Tô Trọng Đ1 là công nhân của Xí nghiệp xây lắp 4. Năm 1989, ông Đ1 được Xí nghiệp thanh lý cho 04 gian nhà tập thể tại địa chỉ tổ G khu V, (nay là khu Y, phường M) thị xã Đ. Năm 2000, vợ chồng bà (bà L2 và ông Tô Trọng Đ1) có cho vợ chồng cháu Nguyễn Duy T1 và Nguyễn Thanh L2 01 gian nhà cấp 4 thanh lý ở giáp với gian nhà cấp 4 của ông Trần Văn D được thanh lý. Việc cho gian nhà thanh lý không có văn bản mà chỉ nói miệng và có đưa cho vợ chồng cháu T1 hóa đơn nộp tiền thanh lý nhà. Việc tại giấy xác nhận lập ngày 02/5/2017, vợ chồng bà Đỗ Thị L có ghi “ngày 15/01/2000, đã chuyển nhượng nhà ở thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11 tại thôn Y, xã Y” là do cán bộ xã đánh máy như vậy và bảo vợ chồng bà ký.

Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/8/2023 xác định: Thửa đất tranh chấp theo GCNQSDĐ số CG 328970, số vào sổ cấp GCN: CH 04879 do UBND thị xã Đ cấp ngày 06/6/2017 mang tên Nguyễn Duy T1 và Nguyễn Thanh L2 có tổng diện tích 359,7m², có vị trí tứ cận tiếp giáp như sau:

  • - Phía Đông giáp hộ ông Tô Trọng Đ1 và bà Đỗ Thị L;
  • - Phía Tây giáp đường ngõ xóm, trục đường của khu;
  • - Phía Nam giáp giáp ngõ đi vào hộ nhà ông Tô Trọng Đ1;
  • - Phía Bắc giáp ngõ đi vào hộ nhà ông Nguyễn Trọng S1.

Tài sản gắn liền với đất tranh chấp gồm có: 01 nhà cấp bốn mái bằng, lợp tôn chống nóng, diện tích 53,5m²; 01 nhà cấp bốn mái ngói, diện tích 21,7m²; 01 nhà cấp bốn mái tôn, diện tích 26,3m² (1); 01 mái tôn diện tích 17,8m² lối vào nhà (1) lợp tôn xung quanh (2); 01 cổng chất liệu bê tông cao 2,3m, mái bê tông, diện tích 3,6m², cánh cổng bằng sắt, 02 cánh bằng tôn, hai trụ cổng xây vuông kích thước (50x50)cm, nằm dưới mái tôn (2); 01 tường gạch dài 09m, cao 1,5m, loại gạch chỉ (3); 01 nhà tạm diện tích 44,4m² mái tôn, tường gạch xi; 01 nhà tạm diện tích 11,2m² mái tôn, tường khung sắt lưới B40; 01 nhà vệ sinh cũ diện tích 1,8m² mái ngói, gạch xi lí cát; 01 chuồng chăn nuôi không còn mái, diện tích 7,0m²; 01 giếng đào (giếng khơi). Trong đó bà Đỗ Thị T đang ở và sử dụng các công trình (1), (2) và (3).

Ngoài các tài sản nêu trên, trên diện tích đất tranh chấp còn một số cây ăn quả. Tuy nhiên, các đương sự thống nhất không tranh chấp các cây ăn quả này nên không đề cập.

Các đương sự không thống nhất được với nhau về giá trị tài sản, bị đơn là chị Nguyễn Thanh L2 có đơn yêu cầu định giá tài sản. Tại Biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Quảng Ninh ngày 28/8/2023 xác định giá trị tài sản tranh chấp nêu trên như sau:

  • - Về đất: Quyền sử dụng diện tích 395,7m² đất ở: 395,7m² x 693.000đ/m² = 274.220.100đ (Hai trăm bảy mươi bốn triệu, hai trăm hai nghìn, một trăm đồng).
  • - Về cây: Các đương sự bà Đỗ Thị T và chị Nguyễn Thanh L2 thống nhất xác nhận cây trồng trên đất gồm có: 05 cây nhãn, trong đó có 01 cây nhẫn đường kính tán từ 4,5 - 5m và 04 cây nhân còn lại có đường kính tán từ 2-3m; 02 cây mít, đường kính tán từ 4,5 - 5m. Các đương sự thống nhất 02 cây mít trị giá 1.000.000₫ (Một triệu đồng), 05 cây nhãn trị giá 1.000.000đ (Một triệu đồng).
  • - Về nhà, công trình trên đất tổng trị giá 442. 514.974đ. Trong đó tài sản nhà và công trình của bà T đang sử dụng trị giá là 53.728.214₫.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T về yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 với anh Đỗ Văn T2.

Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 với anh Đỗ Văn T2 ngày 22/3/2022 tại Văn phòng C2, số công chứng 4181, quyển số 05/2022.TP/CCSCC/HĐGD vô hiệu một phần đối với phần chuyển nhượng tài sản nhà và đất gồm: Nhà và công trình phụ thuộc quyền sử dụng của bà Đỗ Thị T trên diện tích 64,0m² đất tại thửa đất số số 20, tờ bản đồ số 11, địa chỉ ngõ C, tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ (theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/8/2023, có sơ đồ đo vẽ kèm theo).

Các đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu, vì vậy không đề cập. Bà Đỗ Thị T, anh Nguyễn Duy T1, chị Nguyễn Thanh L2, anh Đỗ Văn T2 được quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu bằng một vụ kiện dân sự khác.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tuyên hủy đăng ký biến động đất đai ngày 29/4/2022 từ anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 sang anh Đỗ Văn T2.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tuyên trả lại đất và công nhận diện tích đất trên là của bà T.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án.

Ngày 09/10/2023, bà Đỗ Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn là bà Đỗ Thị T không rút đơn khởi kiện; giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và về cơ bản vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm.

Bị đơn là anh Nguyễn Duy T1, chị Nguyễn Thị Thanh L2 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt; anh Đỗ Văn T2 và đại diện theo ủy quyền của anh T2 về cơ bản giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm về tố tụng và nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của bà Đỗ Thị T trong thời hạn luật định nên hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, kháng cáo của bà Đỗ Thị T là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị T và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.

  1. Về thủ tục tố tụng: Ngày 09/10/2023, bà Đỗ Thị T có đơn kháng cáo là trong hạn luật định nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
    1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

      Bà Đỗ Thị T khởi kiện yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 với anh Đỗ Văn T2 vô hiệu; tuyên hủy Đăng ký biến động đất đai ngày 29/4/2022 từ anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 sang anh Đỗ Văn T2; tuyên hủy Quyết định cá biệt là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2. Theo quy định tại khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

    2. Bị đơn anh Đỗ Văn T2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt anh Đỗ văn T2 là đúng quy định của pháp luật.
    3. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Duy T1, chị Nguyễn Thị Thanh L2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Xét kháng cáo của bà Đỗ Thị T thì thấy:
    1. Xét nguồn gốc diện tích 395,7m² đất tại tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ, các đương sự đang tranh chấp:

      Nguyên đơn là bà Đỗ Thị T cho rằng: Ngày 25/12/1997, bà có mua 04 gian nhà trên thửa đất số 20, Tờ bản đồ số 11, diện tích 395,7m² tại ngõ C, tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ của ông Trần Văn D và bà Phạm Thị Đ trú tại tổ C, khu C, thị trấn M, thị xã Đ. Việc mua bán được lập thành văn bản, bà T đã trực tiếp giao tiền cho vợ chồng ông D, bà Đ dưới sự chứng kiến của vợ chồng ông D, ông Nguyễn Ngọc Q, bà Bùi Thị C. Sau khi mua, bà quản lý, sử dụng liên tục và cùng sinh sống với các con trên thửa đất này. Tháng 7/1996, anh Nguyễn Duy T1 (con trai bà) hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương. Sau khi chồng bà chết, đến năm 1998 anh T1 mới đi làm công nhân mỏ. Năm 1999, anh T1 lấy vợ là chị Nguyễn Thanh L2. Năm 2001, bà cho vợ chồng anh T1, chị L2 về ở cùng trên thửa đất này.

      Chị Nguyễn Thanh L2 là bị đơn và là đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Duy T1 trình bày: Anh T1 làm công nhân tại Mỏ than Y theo Hợp đồng lao động không xác định thời hạn ký ngày 13/11/1996 giữa ông Vũ Văn Q1 - Giám đốc Mỏ than Y, Công ty T9, mức lương chính hệ số 1,72 hưởng mức lương khoán, phụ cấp khu vực 0,3. Năm 1997, anh T1 có mua 03 gian nhà thanh lý của ông D, bà Đ. Tháng 12/1999, anh T1 kết hôn với chị và về ở trên thửa đất nêu trên từ đó đến nay. Trong quá trình ở, anh T1 và chị đã xây nhà kiên cố và tường bao quanh, đăng ký kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 328970 ngày 06/6/2017 mang tên anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2. Đến năm 2014, bà T dẫn con dâu đi vay nợ làm ăn bị vỡ nợ, nên nhờ em gái sang hỏi vợ chồng chị L2 cho ở nhờ, nhưng bà T không ở cố định, đóng cửa để đấy từ năm 2018.

      Quá trình giải quyết vụ án, bà T và anh chị T1, L2 giao nộp 02 bản chính Giấy biên nhận ghi ngày 29/9/1997 (trong đó có 01 giấy biên nhận ghi người mua ký có tên Đỗ Thị T và Nguyễn Duy C1, 01 giấy biên nhận ghi người mua ký có tên Đỗ Thị T), đều có nội dung: “Tên tôi là Trần Văn D, công nhân thuộc đội sàng tuyển 1 Mỏ than Tràng Bạch, có xuất nhà thanh lý của xí nghiệp H2 còn lại 3 gian. Nay tôi muốn nhượng lại cho cháu Nguyễn Duy C1 công nhân thuộc Mỏ Y, Công ty T9, với giá là bốn triệu đồng chẵn. Hiện tại cháu C1 mới giao ba triệu đồng. Còn lại một triệu đồng tháng 2 âm 1998 giao nốt”.

      Tuy 02 Giấy biên nhận ghi ngày 29/9/1997, có một giấy ghi tên người mua ký là Đỗ Thị T, một giấy ghi tên người mua ký là Đỗ Thị T và Nguyễn Duy C1 nhưng cả hai giấy này đều có nội dung ghi “chuyển nhượng cho anh Nguyễn Duy C1” công nhân thuộc Mỏ than Yên Tử, Công ty T9. Ông Trần Văn D và bà Phạm Thị Đ là người bán đều khai: 02 giấy biên nhận trên do bà Đ viết; nội dung ghi “chuyển nhượng cho cháu Nguyễn Duy C1” là theo yêu cầu của bà T, bà T nói mua nhà thanh lý cho con là Nguyễn Duy T1; khi viết, bà Đ không để ý khi ghi tên con trai bà T là C1 hay là T1. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T cũng xác nhận bà là người mua 03 gian nhà thanh lý của vợ chồng ông D, bà Đ và có yêu cầu bà Đ ghi nội dung là chuyển nhượng cho cháu Nguyễn Duy C1 mục đích là để cho anh T1 sau này lo mọi thủ tục giấy tờ. Do đó, có cơ sở kết luận ngày 29/9/1997 bà Đỗ Thị T mua 03 gian nhà tập thể thanh lý của vợ chồng ông Trần Văn D và bà Phạm Thị Đ cho anh Nguyễn Duy T1.

      Sau khi nhận chuyển nhượng 03 gian nhà thanh lý, vợ chồng anh T1, chị L2 quản lý, sử dụng phần đất trên có 03 gian nhà nhận chuyển nhượng ổn định, liên tục, không tranh chấp từ năm 2000 đến nay, đã thực hiện đăng ký, kê khai sử dụng đất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước theo quy định của Luật Đất đai. Năm 2010, Nhà nước đo đạc bản đồ địa chính, tại thời điểm đo vẽ bản đồ, hiện trạng sử dụng đất của vợ chồng anh T1, chị L2 được xác định là thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11 tại địa chỉ ngõ C, tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ, diện tích 395,7m². Tại Sổ mục kê của phường Y, thị xã Đ, tại trang số 30, số thứ tự 20 thể hiện tên người sử dụng đất tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11 là hộ Nguyễn Thanh L2. Như vậy, theo quy định tại Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ có căn cứ xác lập quyền sử dụng đất thửa đất số 20 nêu trên cho anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2.

      Theo các tài liệu chứng cứ do bà Đỗ Thị T giao nộp thì thấy: Sau khi mua nhà, bà T không ở ổn định tại nhà thanh lý bà mua lại mà về quê nơi bà đăng ký hộ khẩu thường trú ở (thôn T, xã B, huyện K, tỉnh Hải Dương); đăng ký tạm trú tại khu Y, phường Y, thị xã Đ ngày 03/5/2018 (Sổ tạm trú số [...]); đăng ký tạm trú tại khu Y, phường Y, thị xã Đ ngày 07/8/2019 (Sổ tạm trú số [...]); đăng ký tạm trú tại khu Y, phường Y, thị xã Đ thời hạn từ ngày 02/6/2022 đến ngày 31/5/2024 (Xác nhận thông tin về cư trú số: 000082/XN ngày 03/6/2022 của Công an phường Y, thị xã Đ). Ngoài Giấy biên nhận ghi ngày 29/9/1997, bà T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về quyền sử dụng đất của bà T đối với diện tích 395,7m² đất tranh chấp nêu trên hoặc chứng minh bà T sử dụng ổn định, liên tục diện tích 395,7m² đất đang tranh chấp.

      Tại Tòa án cấp sơ thẩm bà T cũng đã trình bày nếu anh T1, chị L2 trả bà 1.200.000 đồng là giá trị ½ thửa đất anh T1, chị L2 đã bán cho anh T2 thì bà cũng đồng ý giao lại thửa đất để anh T1, chị L2 hoàn tất thủ tục mua bán. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T khai tài sản nhà đất của bà đã chia hết cho các con, riêng thửa đất này chưa chia cho anh T1 và trình bày nếu anh T1, chị L2 trả bà 500.000 đồng thì bà cũng đồng ý giao lại thửa đất để anh T1, chị L2 hoàn tất thủ tục mua bán.

      Từ những căn cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 có quyền sử dụng thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11, diện tích 395,7m² tại địa chỉ ngõ C, tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ đã được UBND thị xã Đ cấp Giấy CNQSDĐ số CG 328970, ngày 06/6/2017 mang tên anh T1, chị L2 là có cơ sở.

    2. Về yêu cầu tuyên hủy Giấy CNQSDĐ số CG 328970 do UBND thị xã Đ cấp ngày 06/6/2017 mang tên Nguyễn Duy T1 và Nguyễn Thanh L2:

      Ngày 03/10/2022, bà Đỗ Thị T có đơn khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ số CG 328970 nêu trên, Tòa Hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã thụ lý đơn khởi kiện của bà T bằng vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 80/2022/TLST-HC ngày 14/10/2022. Quá trình giải quyết vụ án, bà T có đơn xin rút lại đơn khởi kiện, ngày 19/12/2022 Tòa án ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 112/2022/QĐST-HC.

      Sau khi rút đơn khởi kiện vụ án hành chính, bà T tiếp tục có đơn khởi kiện vụ án dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định Giấy CNQSDĐ số CG 328970 nêu trên là quyết định cá biệt để thụ lý và giải quyết là đúng pháp luật và đúng thẩm quyền.

      Xét thấy Đơn đăng ký cấp Giấy CNQSDĐ và hồ sơ cấp Giấy GCNQSDĐ của anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 có nội dung thể hiện về nguồn gốc đất của ông Tô Trọng Đ1 mua nhà thanh lý Xí nghiệp Xây lắp 4 cũ từ năm 1989, nhận chuyển nhượng từ năm 2000 là không chính xác vì tại Phiếu thu số 62 ngày 20/6/1989 ghi ông Tô Trọng Đ1 nộp tiền thanh lý nhà, không có nội dung nộp tiền thanh lý đất. Tuy nhiên, anh Nguyễn Duy T1, chị Nguyễn Thanh L2 sử dụng ổn định, không tranh chấp thửa đất diện tích 395,7m² tại tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ từ năm 2000, đến ngày 10/9/2010 Nhà nước đo vẽ bản đồ địa chính, hiện trạng sử dụng đất của vợ chồng anh T1, chị L2 được xác định là thửa đất số 20 tờ bản đồ địa chính số 11 phường Y, thị xã Đ. Tuy hồ sơ đề nghị cấp Giấy CNQSDĐ có nhiều thiếu sót như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đã trình bày, nhưng đất có nguồn gốc như đã phân tích mục [2.1] nêu trên. Quá trình sử dụng đất anh T1, chị L2 thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với địa phương như: Đóng góp xây dựng đường với địa phương (hộ anh T1 chị L2 thuộc trường hợp nộp thuế sử dụng đất hàng năm dưới 50.000đ, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế năm 2016 thì được miễn nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hàng năm); tại thời điểm xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2017, được UBND phường Y xác nhận đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp nên theo quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật đất đai năm 2013, điểm a khoản 1 Điều 20 và Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, UBND thị xã Đ cấp Giấy CNQSDĐ số CG 328970, số vào sổ cấp GCN: CH 04879, ngày 06/6/2017 mang tên Nguyễn Duy T1 và Nguyễn Thanh L2 là có căn cứ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ số CG 328970 nêu trên của bà T là có căn cứ.

    3. Về yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 với anh Đỗ Văn T2 vô hiệu:

      Ngày 22/3/2022, anh T1, chị L2 thỏa thuận chuyển nhượng cho anh Đỗ Văn T2 quyền sử dụng diện tích 395,7m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11, địa chỉ ngõ C, tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 328970, số vào số cấp Giấy chứng nhận số: CH04879 do UBND thị xã Đ cấp ngày 06/6/2017 mang tên anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên được công chứng tại Văn phòng C2 ngày 22/3/2022, vào số công chứng số 4181, quyển số 05/2022.TP/CC-SCC/HĐGD.

      Chị L2 thừa nhận: Trên thửa đất vợ chồng chị chuyển nhượng cho anh Đỗ Văn T2 có cả phần tài sản là nhà và công trình phụ của bà Đỗ Thị T xây dựng trên phần đất của vợ chồng chị đã được cấp Giấy CNQSDĐ. Tại thời điểm chuyển nhượng bà T không có nhà, nhưng trước đó vợ chồng chị L2 đã hỏi ý kiến bà T và được bà T đồng ý bán nhà của bà T, nhưng chị L2 không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Bà Đỗ Thị T trình bày bà không biết việc vợ chồng chị L2 bán nhà của bà T cho anh Đỗ Văn T2.

      Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/8/2023 thì: Toàn bộ nhà và công trình phụ của bà T được xây dựng thành khuôn viên riêng, mở cổng đi riêng, trên diện tích 64m² đất thuộc thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11 đã được cấp Giấy CNQSDĐ mang tên anh T1, chị L2.

      Như vậy, việc vợ chồng anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thuộc thuộc quyền sử dụng của anh T1 và chị L2 cho anh Đỗ Văn T2 ngày 22/3/2022 là hoàn toàn tự nguyện. Tại thời điểm chuyển nhượng vợ chồng anh T1, chị L2 đã được cấp Giấy CNQSDĐ nên thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, trên diện tích đất vợ chồng anh T1, chị L2 được cấp có tài sản là nhà và công trình phụ của bà T gắn liền với đất, được xây dựng thành khuôn viên riêng, có mở cổng đi lối đi riêng. Vợ chồng anh T1, chị L2 chuyển nhượng cả phần tài sản thuộc sở hữu của bà T cho anh Đỗ Văn T2 mà không được sự đồng ý của bà T.

      Vì vậy, có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T về tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 với anh Đỗ Văn T2 đối với chuyển nhượng tài sản là nhà và công trình phụ xây dựng thuộc quyền sử dụng của bà Đỗ Thị T trên diện tích 64,0m² đất tại thửa đất số số 20, tờ bản đồ số 11, địa chỉ ngõ C, tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ.

      Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đỗ Văn T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T2 không đến Tòa án, không có lý do. Bà Đỗ Thị T và chị Nguyễn Thanh L2 đã được Tòa án giải thích về quyền được yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, nhưng bà T và chị L2 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Căn cứ phạm vi xét xử quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu đối với phần nhà và công trình phụ của bà T xây dựng trên diện tích 64m² tại thửa đất số 20, tờ bản đồ địa chính số 11, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 nêu trên. Dành quyền cho các đương sự: Bà Đỗ Thị T, anh Nguyễn Duy T1, chị Nguyễn Thanh L2, anh Đỗ Văn T2 được quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu bằng một vụ kiện dân sự khác.

    4. Xét yêu cầu tuyên hủy đăng ký biến động đất đai ngày 29/4/2022 từ anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 sang anh Đỗ Văn T2:

      Sau khi anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11, diện tích 395,7m² có địa chỉ ngõ C, tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ đã được UBND thị xã Đ cấp Giấy CNQSDĐ số CG 328970 ngày 06/6/2017 với anh Đỗ Văn T2 và được công chứng tại Văn phòng C2, quyển số 05/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/3/2022, thì cùng ngày anh T1 và chị L2 có đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất gửi Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ.

      Ngày 07/4/2022, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của anh T1, chị L2 với anh Đỗ Văn T2 đối với thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11 nêu trên. Ngày 13/4/2022, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện việc luân chuyển hồ sơ, xác định nghĩa vụ tài chính sang Chi cục thuế thị xã Đ. Ngày 22/4/2022, Chi cục thuế thị xã Đ ban hành Thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà, đất số LTB 2222521-TK0010971/TB-CCT, và Thông báo nộp tiền thuế thu nhập cá nhân chuyển nhượng bất động sản số LTB 2222521 – TK0010972/TB-CCT. Ngày 26/4/2022, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tiếp nhận giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước theo nội dung các thông báo nêu trên.

      Trong thời gian xử lý đơn đăng ký biến động đất đai của chị L2, anh T1, ngày 12/4/2022, bà Đỗ Thị T có đơn kiến nghị gửi UBND thị xã Đ, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Đ, đề nghị xem xét lại việc cấp Giấy CNQSDĐ của bà T tại địa chỉ khu Y, phường Y, thị xã Đ nêu trên cho ông Tô Trọng Đ1. Ngày 22/4/2022, UBND thị xã Đ ban hành Văn bản số 75/UBND-TD gửi Phòng T, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã và UBND phường Y yêu cầu xem xét lại việc cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Tô Trọng Đ1 tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11, khu Y, phường Y của bà Đỗ Thị T.

      Theo Bản đồ địa chính phường Y được đo vẽ ngày 10/9/2010 thì thửa đất ông Đ1 sử dụng được xác định là thửa đất số 21, tờ bản đồ số 11 có nguồn gốc ông Đ1 được mua thanh lý 04 gian nhà tập thể của Xí nghiệp X năm 1997 nay có địa chỉ là tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ; năm 2006, ông Tô Trọng Đ1 và bà Đỗ Thị L được UBND thị xã Đ cấp Giấy CNQSDĐ. Thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11 tại khu Y, phường Y, thị xã Đ theo hồ sơ địa chính đứng tên người sử dụng là anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2. Ngày 06/6/2017, anh T1 và chị L2 được UBND thị xã Đ cấp Giấy CNQSDĐ số CG 328970, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số: CH04879.

      Như vậy, việc bà Đỗ Thị T có Đơn kiến nghị ngày 12/4/2022 gửi UBND thị xã Đ, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Đ, kiến nghị xem xét lại việc UBND thị xã Đ cấp giấy CNQSDĐ cho ông Tô Trọng Đ1 đối với thửa đất số 20 tờ bản đồ số 11 phường Y mà bà T cho rằng thuộc quyền sử dụng của bà T không phải nội dung kiến nghị xem xét lại việc vợ chồng anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Đỗ Văn T2 ngày 22/3/2022 theo Giấy CNQSDĐ số CG 328970, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số: CH04879 do UBND thị xã Đ cấp ngày 06/6/2017 mang tên anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2.

      Do đó, ngày 29/4/2022, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Đ xác nhận nội dung biến động về người sử dụng đất trên Giấy CNQSDĐ đã cấp cho anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 là đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu tuyên hủy đăng ký biến động đất đai ngày 29/4/2022 từ anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 sang anh Đỗ Văn T2 nêu trên của bà T là có căn cứ.

    5. Về yêu cầu khởi kiện đề nghị tuyên trả lại đất và công nhận diện tích đất trên là của bà T:

      Từ các phân tích tại [2.1], [2.2], [2.3] nêu trên có căn cứ xác định bà T mua 03 nhà thanh lý của vợ chồng ông D, bà Đ cho con trai là Nguyễn Duy T1. Sau khi mua nhà thanh lý, bà T không ở ổn định tại khu V (nay là khu Y) phường Y thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; bà T còn cư trú tại địa phương khác là thôn T, xã B, huyện K, tỉnh Hải Dương và khu Y, phường Y thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Bà T cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh về quyền sử dụng đất của bà T đối với diện tích 395,7m² đất tranh chấp nêu trên ngoài Giấy biên nhận ghi ngày 29/9/1997 mà bà T khai mua nhà thanh lý cho anh Nguyễn Duy T1.

      Anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 sử dụng đất ổn định từ năm 2000 đến nay. Năm 2010, Nhà nước đo đạc bản đồ địa chính, tại thời điểm đo vẽ bản đồ, hiện trạng sử dụng đất của vợ chồng anh T1, chị L2 được xác định là thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11 tại địa chỉ ngõ C, tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ, diện tích 395,7m². Tại Sổ mục kê của phường Y, thị xã Đ, tại trang số 30, số thứ tự 20 thể hiện tên người sử dụng đất tại thửa đất số 20, tờ bản đồ số 11 là hộ Nguyễn Thanh L2. Quá trình sử dụng đất vợ chồng anh T1, chị L2 thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đất với địa phương, thực hiện nghĩa vụ đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. Ngày 06/6/2017, anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 được UBND thị xã Đ cấp Giấy CNQSDĐ số CG 328970, số vào số cấp GCN: CH 04879, diện tích 395,7m² đất ở.

      Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T về việc buộc anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 trả lại bà T quyền sử dụng 395,7m² đất ở tại địa chỉ tổ I, khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh là có cơ sở.

      Với các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T về yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 với anh Đỗ Văn T2; và không chấp nhận yêu cầu các yêu cầu khởi kiện gồm: Tuyên hủy đăng ký biến động đất đai từ anh Nguyễn Duy T1 và chị Nguyễn Thanh L2 sang anh Đỗ Văn T2, yêu cầu tuyên trả lại đất và công nhận diện tích đất trên là của bà T là đúng pháp luật.

      Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết mới, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

    6. Về án phí: Bà Đỗ Thị T là người cao tuổi và đã có đơn đề nghị được miễn nộp án phí nên được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
    7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị T; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
  2. Về án phí: Miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm cho bà Đỗ Thị T.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Đông Ong Thân T7

Nguyễn Phan N

Nơi nhận

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKS ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HSVA, Phòng HCTP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Phan Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 360/2024/DS-PT ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu

  • Số bản án: 360/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger