TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 360/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 6 - 2024
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Công Nhân;
- Bà Phạm Thị Mỹ Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh –Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Đình Khang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 715/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2024/QĐST–HNGĐ ngày 22/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Võ Văn C, sinh năm 1960; địa chỉ: Số D L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1962; địa chỉ: Số D L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. - Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử công bố nội dung đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2023, các bản tự khai, biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản hòa giải nguyên đơn ông Võ Văn C trình bày:
Ông Võ Văn C và bà Lê Thị Hồng q thời gian tìm hiểu được 01 năm thì tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 1982 (Giấy chứng nhận kết hôn số 372/1982 do UBND thị trấn B, huyện B, Tỉnh Long An cấp ngày 12/05/1982).
Sau khi kết hôn, cả hai thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo ông là do bất đồng quan điểm sống, bản thân ông phải đi làm ăn ở xa nên ông tin tưởng giao cho bà H tự hoạch toán các khoản chi tiêu trong gia đình nhưng bà H chi tiêu không hợp lý, không minh bạch với ông như việc tự ý lấy tiền của vợ chồng cho em ruột của bà H mà không cho ông biết, từ đó làm ông mất niềm tin vào bà H. Ngoài ra, bà H không quan tâm chăm sóc con cái nên việc học hành của các con dở dang, các con ông chưa ai học hết cấp Trung học phổ thông. Trong cách ứng xử với hàng xóm, bà H thường hay gây gổ với hàng xóm láng giềng nên gây mất uy tín cho ông.
Ông đã tìm cách khắc phục mâu thuẫn bằng cách khuyên bảo bà H nhưng bà H không thay đổi. Cả hai ông bà đã sống ly thân 19 năm nay, hiện tại vẫn còn sống ly thân.
Nay ông xác định tình cảm không còn, không có khả năng đoàn tụ nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị H
- - Về con chung: Có 03 người con chung, họ tên là Võ Trường A, sinh ngày 02/12/1982; Võ Thùy A1, sinh ngày 21/11/1987; Võ Bình A2, sinh ngày 15/6/1993. Các con đều đã trưởng thành.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- - Về nợ chung: Không có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử công bố nội dung bản tự khai ngày 07/1/2024 do bị đơn bà Lê Thị H trình bày:
Bà và ông Võ Văn C qua thời gian tìm hiểu 01 năm thì tiến tới hôn nhân vào năm 1982 có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại thị trấn B, huyện B, Tỉnh Long An nhưng do thời gian đã lâu nên bà không nhớ đăng ký kết hôn vào năm nào. Hai bên có sự bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân hơn 10 năm nay và hiện tại vẫn còn sống ly thân. Với yêu cầu ly hôn của ông C thì bà đồng ý.
- - Về con chung: Có 03 người con chung, họ tên là Võ Trường A, sinh ngày 02/12/1982; Võ Thùy A1, sinh ngày 21/11/1987; Võ Bình A2, sinh ngày 15/6/1993. Các con đều đã trưởng thành.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- - Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị đơn bà Lê Thị H đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/05/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2024/QĐST–HNGĐ ngày 22/5/2024 nhưng bị đơn bà Lê Thị H vẫn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn ông Võ Văn C yêu cầu khởi kiện ly hôn với bị đơn bà Lê Thị H hiện đang cư trú tại số D L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Đ a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về tố tụng:
Nguyên đơn ông Võ Văn C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Lê Thị H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án gồm: Giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa tuy nhiên vẫn vắng mặt không lý do. Nên, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu của các đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Văn C yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị H.
Căn cứ Trích lục kết hôn (bản sao) số 372/1982 do UBND thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An cấp ngày 12/5/1982 thì có đủ cơ sở để xác định ông Võ Văn C và bà Lê Thị H là vợ chồng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
Ông Võ Văn C và bà Lê Thị H tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 1982, sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo ông C là do cả hai bất đồng quan điểm sống về mọi mặt, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, bà H không biết chăm sóc con cái và gia đình. Ông C cũng đã tìm cách khắc phục mâu thuẫn bằng cách khuyên bảo bà H nhưng bà H không thay đổi. Cả hai có thời gian dài sống ly thân, thời gian này ông bà không quan tâm chăm sóc đến nhau cứ mạnh ai nấy sống.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án bà H cũng đã đến Tòa án và đồng ý hôn với ông C nhưng sau khi Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng để tham gia các buổi hòa giải và xét xử thì bà Lê Thị H vẫn không đến Tòa án làm việc. Điều này thể hiện sự thiếu quan tâm đến việc xây dựng quan hệ hôn nhân bền vững.
Việc xây dựng hàn gắn gia đình phải xuất phát từ hai phía nhưng rõ ràng ông Võ Văn C và bà Lê Thị H không còn yêu thương, chia sẻ với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân giữa hai người cũng chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không mang lại hạnh phúc cho nhau nên yêu cầu ly hôn của ông C là có căn cứ chấp nhận phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
[2.2] Về con chung: Ông Võ Văn C và bà Lê Thị H: Có 03 người con chung, họ tên là Võ Trường A, sinh ngày 02/12/1982; Võ Thùy A1, sinh ngày 21/11/1987; Võ Bình A2, sinh ngày 15/6/1993. Các con đều đã trưởng thành.
[2.3] Về tài sản chung: Các đương sự tự giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí: Ông Võ Văn C được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Quyền kháng cáo: Ông Võ Văn C và bà Lê Thị H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
- Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn ông Võ Văn C và bị đơn bà Lê Thị H.
- Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Võ Văn C và bà Lê Thị H (Giấy chứng nhận kết hôn số 372/1982 do UBND thị trấn B, huyện B, Tỉnh Long An cấp ngày 12/05/1982).
- Về con chung: Các con đều đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: Tự giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Văn C là người trên 60 tuổi thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ, Khoản 1, Điều 12, Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Trang |
Bản án số 360/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 360/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yc Nguyên đơn
