|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 360/2024/DS-PT
Ngày: 19/8/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng; Yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSD đất; Yêu cầu vô hiệu hợp đồng ủy quyền”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Dung
- Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Bình
Bà Hồ Thị Tuyết Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng; Yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất; Yêu cầu vô hiệu Hợp đồng ủy quyền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXPT-DS ngày 03 tháng 7 năm 2024.
Do Bản án sơ thẩm số 25/2024/DSST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử sơ thẩm có kháng cáo, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
Ngân hàng Thương mại cổ phần X (E) (gọi tắt là Ngân hàng).
Địa chỉ: Tầng H V, số G L, P.B, Q1, TP ...
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Hà P, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng H, chức vụ: Quyền Tổng giám đốc E, theo giấy ủy quyền số 373/2023/EIB/UQ-CTHĐQT ngày 03/10/2023.
Người được ủy quyền lại: Ông Phạm Đình P1, chức vụ: Chuyên viên ngân hàng E, theo giấy ủy quyền số 563/2023/EIB/UQ-TGĐ ngày 11/12/2023 (có mặt).
Ông Đào Minh Đ, sinh năm 1976 (có mặt)
Bà Võ Mai T, sinh năm 1982
Cùng cư trú: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Bà T ủy quyền cho ông Đ theo hợp đồng ủy quyền ngày 04/8/2023, số công chứng 1221, Quyển số 03/2023/TP.CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, thành phố Cần Thơ.
* Bị đơn:
Ông Huỳnh Ngọc Thanh T1, sinh năm 1989
Nơi cư trú: số B đường L, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
Đại diện ủy quyền của ông T1: Ông Phan Long H1, sinh năm 1987, theo giấy ủy quyền ngày 05/01/2024 (có mặt).
Ông Chung Hồng B, sinh năm 1971
Nơi cư trú: Số E, đường T, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
Ông Chung Lê M, sinh năm 1993
Nơi cư trú: Số E đường T, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
Ông M và ông B ủy quyền: Ông Võ Hồ Thế P2, sinh năm 1977, theo giấy ủy quyền ngày 05/01/2024 (có mặt).
Ông Trần Trung T2, sinh năm 1966 (có mặt).
Nơi cư trú: 378/15 khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Bà Tạ Thị Minh T3, sinh năm 1973.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T3: Ông Trần Trung T2
Nơi cư trú: 378/15 khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Văn phòng C2. Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C4), thành phố Cần Thơ (xin vắng mặt).
Người kháng cáo: Ông Đào Minh Đ và Võ Mai T
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/01/2022 Ngân hàng thương mại cổ phần X-Chi nhánh T7 (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 có ký Hợp đồng tín dụng số LAV220008354/1516 để cho vay tổng số tiền 2.800.000.000 đồng (hai tỷ tám trăm triệu đồng). Thời hạn vay 240 tháng. Thực hiện hợp đồng tín dụng trên Ngân hàng đã giải ngân cho ông T2, bà T3 theo các hợp đồng tín dụng từng lần. Ngày 18/3/2022 ông T2 có ký giấy đề nghị kiêm phát hành Thẻ tín dụng quốc tế với Ngân hàng H3 thẻ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Thực hiện giấy đề nghị ngày 21/3/2022 Ngân hàng đã cấp Thẻ tín dụng cho ông T2 sử dụng Thẻ tín dụng, thời hạn thẻ 36 tháng.
Để đảm bảo khoản vay ông T2, bà T3 đã ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp số 19/2022/EIBTĐO-TN/TC ngày 25/01/2022 để thế chấp QSD đất tại thửa 98, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại đường T, KV A, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo CNQSDĐ QSHNƠ và TSKGLVĐ số CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 chỉnh lý ngày 01/10/2020 đứng tên ông Trần Trung T2.
Quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng trên thì ông T2, bà T3 trả được cho Ngân hàng số nợ gốc là 138.565.890đồng và tiền lãi là 220.893.349đồng. Sau đó ông T2, bà T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông T2, bà T3 trả nợ nhưng vẫn không thanh toán cho Ngân hàng.
Tính đến ngày 03/4/2024 ông T2, bà T3 nợ Ngân hàng như sau:
- Đối với Hợp đồng tín dụng số LAV220008354/1516 nợ gốc là 2.661.434.110 đồng, nợ lãi trong hạn 303.730.548 đồng, nợ lãi quá hạn và lãi chậm trả là 30.459.466đồng. Tổng cộng là 2.995.624.124 đồng.
- Đối với nợ Thẻ tín dụng (số tài khoản thanh toán thẻ 1516150501000278)): nợ gốc là 17.927.120đồng và nợ lãi là 6.306.952 đồng. Tổng cộng là 24.234.072đồng.
Như vậy tính đến ngày 03/4/2024 ông T2, bà T3 còn nợ Ngân hàng tổng hai khoản (1+2) là 3.019.858.196 đồng.
Nếu ông T2, bà T3 trả không đủ hoặc không hết số nợ thì Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo Giấy CNQSDĐ và QSHNƠ và TSKGLVĐ số CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Sở Tài nguyên và Môi trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 chỉnh lý ngày 01/10/2020 tọa lạc tại đường T, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ tại thửa đất số 98, tờ bản đồ số 43 theo Hợp đồng thế chấp đã ký. Nếu đã phát mãi tài sản vẫn không thu đủ số nợ thì ông T2, bà T3 tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng đến khi nào trả xong nợ.
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Đào Minh Đ trình bày:
Năm 2020 do cần tiền để hoạt động kinh doanh nên ông Đ cùng vợ là bà T có ý định thế chấp QSD đất số CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 chỉnh lý ngày 01/10/2020, đất tọa lạc tại đường T, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ tại thửa đất số 98, tờ bản đồ số 43, với diện tích 455,5m², trong đó 40m2 thổ cư, diện tích còn lại là đất trồng cây lâu năm. Nhưng do vợ chồng ông bị xếp loại nợ xấu nên không thể vay Ngân hàng.
Thông qua các mối quan hệ xã hội và được sự giới thiệu của bạn bè, ông Đ, bà T biết được Huỳnh Ngọc Thanh T1, Chung Hồng B và Chung Lê M đều là dân kinh doanh bất động sản. Ông Đ, bà T cùng ông T1, B, M thỏa thuận thuê T1 với B là 30.000.000 đồng để đứng tên trên Giấy chứng nhận QSD đất và đứng ra vay vốn Ngân hàng, ông Đ, bà T cần vay 1.500.000.000 đồng. Ngày 24/9/2020 ông Đ, bà T có ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất nêu trên cho người của T1, B để thuê mướn.
Ngày 23/10/2020 ông Đ và ông T1 tiếp tục ký hợp đồng cam kết cho ông Đ, bà T mượn trước số tiền 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng) và ông Đ đã nhận đủ số tiền 1.500.000.000 đồng này.
Sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho người của T1 là ông T2 và bà T3 thuê mỗi tháng 2.000.000 đồng để đứng tên QSD đất và để đứng tên ký Hợp đồng thế chấp vay Ngân hàng TMCP X-Chi nhánh T7 (E).
Từ đó đến khi phát sinh khởi kiện vụ án ông Đ chuyển khoản và cũng có trả tiền mặt cho ông T1 hàng tháng. Đến tháng 02/2023 ông Đ, bà T phát hiện ông T1 không đóng lãi cho Ngân hàng (E). Và ông T1, ông B đã yêu cầu ông T2, bà T3 ký Hợp đồng ủy quyền toàn phần cho ông Chung Lê M (cháu ruột của C Hồng Bảo), sau đó M ký Hợp đồng đặt cọc để bán phần đất này cho một người khác mà không được sự đồng ý của ông Đ cũng như không đúng với tinh thần cam kết đã ký giữa ông T1 với ông Đ ngày 23/10/2020.
Tại phiên tòa ngày 29/3/2024 ông Đ, bà T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và bổ sung yêu cầu khởi kiện là kiến nghị UBND quận Ô thu hồi Giấy chứng nhận QSD đất CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 chỉnh lý ngày 01/10/2020 từ tên ông T2 sang lại tên cho ông Đ, bà T.
Tại phiên tòa ngày 03/4/2024 ông Đ, bà T thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu giải quyết vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 24/09/2020 được công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng 92, quyển số 01/2020 TP/CC-SCC/HĐGD ký giữa bà Võ Mai T với ông Trần Trung T2); Vô hiệu Hợp đồng ủy quyền số 438 do Văn phòng C3 ký ngày 28/01/2022; Giữ nguyên bổ sung yêu cầu khởi kiện là kiến nghị UBND quận Ô thu hồi Giấy chứng nhận QSD đất CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 chỉnh lý ngày 01/10/2020 từ tên ông T2 sang lại tên cho ông Đ, bà T; Ông Đ đề nghị được rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông T1, ông B trả số tiền 1.300.000.000 đồng; Rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông Đ, bà T trả tiền gốc, lãi cho Ngân hàng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bị đơn là ông Trần Trung T2 và bà Tạ Thị Minh T3 trình bày:
Trước ngày 24/9/2020 các ông T1, ông B có đến nhà vợ chồng ông T2 gợi ý thuê vợ chồng ông T2 đứng tên giùm miếng đất có diện tích 455,5m², trong đó 40m2 thổ cư, diện tích còn lại là đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại đường T, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận QSD đất số CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 do bà Võ Mai T đứng tên, với số tiền thù lao là 2.000.000 đồng/tháng; mục đích để làm thủ tục vay Ngân hàng. Sau đó bà T đã làm Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho ông T2 tại Văn phòng C2 ngày 24/9/2020 và ông T2 đã được chỉnh lý sang tên ngày 01/10/2020.
Được sự hướng dẫn của ông B và ông T1 thì ông T2, bà T3 có đến Ngân hàng TMCP X-Chi nhánh T7 để vay số tiền 2.800.000.000đồng (hai tỷ tám trăm triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng số LAV-220008354/1516 ngày 25/01/2022. Số tiền này đã được chuyển khoản vào tài khoản cho ông T1. Tiền lãi và tiền gốc trả hàng tháng do ông B và ông T1 tự chuyển trả cho Ngân hàng. Để đảm bảo khoản vay ông T2, bà T3 có ký Hợp đồng thế chấp QSD đất tại thửa 98, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại đường T, KV15, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo CNQSDĐ và QSHNƠ và TSKGLVĐ số CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Tài Nguyên và Môi Trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 chỉnh lý ngày 01/10/2020 đứng tên ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3. Nay với yêu cầu của Ngân hàng thì ông T2, bà T3 đồng ý; đối với yêu cầu của ông Đ, bà T thì ông T2, bà T3 đồng ý chuyển nhượng QSD đất trên lại cho ông Đ, bà T với điều kiện ông Đ, bà T, ông T1, ông B, ông M tự trả nợ cho Ngân hàng. Sau khi trả xong thì ông T2, bà T3 sẽ nhận lại Giấy đất ra và chuyển ngược lại cho ông Đ, bà T.
* Trong quá trình giải quyết vụ án đến khi vụ án được đưa ra xét xử bị đơn gồm các ông Huỳnh Ngọc Thanh T1, Chung Hồng B, Chung Lê M vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa đại diện cho ông Huỳnh Ngọc T4 T1 là ông Phan Long H1 trình bày:
Ngày 23/10/2020 ông Đ, bà T có vay của ông T1 số tiền 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng), với lãi suất 1.5%/tháng. Khi vay tiền có làm hợp đồng cam kết, thời hạn vay 60 tháng.
Ngày 24/10/2020 ông Đ, bà T có vay thêm số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) và sau đó thêm 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng), với lãi suất 1.5%/tháng. Tổng cộng ông Đ, bà T vay của ông T1 số tiền là 2.900.000.000 đồng (hai tỷ chín trăm triệu đồng). Khi vay đều có làm hợp đồng cam kết, nếu vợ chồng ông Đ, bà T không trả lãi hoặc không trả được nợ thì ký chuyển nhượng thửa đất số 98, tờ bản đồ 43, diện tích 455,5m² đất tọa lạc tại đường T, KV A, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ để ông T1 vay vốn ngân hàng thay cho ông Đ, bà T và cũng để lấy lại tiền ông T1 đã cho ông Đ, bà T vay. Đồng thời ông Đ, bà T có nghĩa vụ trả lãi cho Ngân hàng. Tính đến tháng 6/2021 ông Đ, bà T đã đóng lãi cho ông T1 được số tiền 35.000.000 đồng, sau đó không đóng lãi nữa nên ông T1 yêu cầu ông Đ, bà T trả lại toàn bộ số tiền đã vay. Nếu không trả đủ tiền gốc và lãi thì phải sang tên thửa đất trên để ông T1 vay ngân hàng. Nhưng đến ngày 24/9/2020 ông Đ, bà T chuyển nhượng QSD đất trên cho ông T2, bà T3. Vì không có tiền trả nợ cho ông T1 nên ông Đ, bà T có nhờ ông T2, bà T3 vay của Ngân hàng thương mại cổ phần X số tiền 2.800.000.000 đồng (hai tỷ tám trăm triệu đồng) để trả cho ông T1. Sau khi được giải ngân ông Đ, bà T đã trả cho ông T1 được 2.800.000.000 đồng (hai tỷ tám trăm triệu đồng), còn nợ lại 100.000.000 đồng. Tính từ ngày 13/4/2022 đến tháng 10/2022 ông Đ, bà T đã trả thêm cho ông T1 được 99.000.000 đồng. Dù ông Đ, bà T còn một triệu đồng nhưng ông T1 cũng xem như trả xong, không yêu cầu gì. Tại phiên tòa hôm nay ông Đ đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông T1, B trả số tiền 1.300.000.000 đồng, ông H1 không ý kiến gì. Còn ý kiến của ông T2, bà T3 đề nghị ông T1 liên đới ông Đ, bà T, ông B, ông M trả nợ cho Ngân hàng, ông H1 không đồng ý.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – Văn phòng C2, Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C4), thành phố Cần Thơ:
Có văn bản số 116/HNH-VP ngày 22/8/2023 với nội dung: Sau khi xem xét hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số công chứng 92, quyển số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/9/2020 giữa bên chuyển nhượng bà Võ Mai T với bên nhận chuyển nhượng Trần Trung T2 đã được Công chứng viên Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C4) chứng nhận theo đúng quy định.
Đối với Hợp đồng ủy quyền số công chứng 38, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/01/2022 giữa bên ủy quyền ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 với bên nhận ủy quyền ông Chung Lê M đã được Công chứng viên Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C4) chứng nhận theo đúng quy định. Do đó đề nghị quý Tòa giải quyết theo quy định. Đồng thời đề nghị được vắng mặt trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án.
* Tại bản tự khai đề ngày 05/01/2024 của bị đơn - ông Chung Lê M trình bày:
Ngày 28/01/2022 ông M có đặt cọc cho bà Võ Mai T số tiền 2.100.000.000đồng (hai tỷ một trăm triệu đồng) để đảm bảo cho việc nhận chuyển nhượng thửa đất số 98, tờ bản đồ 43, diện tích 455,5m² đất tọa lạc tại đường T, KV15, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ, theo CNQSDĐ QSHNƠ và TSKGLVĐ số CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Sở Tài nguyên và Môi trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 chỉnh lý ngày 01/10/2020. Thời hạn đặt cọc là 36 tháng kể từ ngày 28/01/2022. Ông M và bà T có lập hợp đồng đặt cọc và đầy đủ chữ ký của ông M, bà T và có chữ ký người làm chứng là ông Huỳnh Ngọc Thanh T1. Ông M đã giao tiền 2.100.000.000đồng (hai tỷ một trăm triệu đồng) cho bà T ngay khi ký hợp đồng đặt cọc. Sau khi giao kết hợp đồng đặt cọc bà T có nói nhà đất này là tài sản riêng của bà và hiện nay ông T2, bà T3 đang đứng tên giùm bà để vay Ngân hàng thương mại cổ phần X (E), số tiền vay 2.800.000.000đồng. Bà T cam kết 36 tháng sẽ trả hết nợ cho Ngân hàng để nhận lại tài sản thế chấp và chuyển nhượng toàn bộ nhà đất trên cho ông M với giá 4.200.000.000đồng (bốn tỷ hai trăm triệu đồng). Trường hợp bà T vi phạm sẽ bồi thường gấp đôi số tiền đặt cọc cho ông M. Nhà đất này của bà T do vợ chồng ông T2, bà T3 đứng tên giùm nên bà T có yêu cầu ông T2, bà T3 ủy quyền cho ông M, việc ủy quyền theo hợp đồng công chứng số chứng 38, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/01/2022 giữa bên ủy quyền ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 với bên nhận ủy quyền ông Chung Lê M đã được Công chứng viên Văn phòng C3, ông M được toàn quyền liên hệ Ngân hàng để trả nợ gốc, lãi, nhận lại tài sản; các cơ quan chức năng mục đích nhằm đảm bảo ông M và bà T sẽ tiến hành giao kết hợp đồng chuyển nhượng.
Với yêu cầu vô hiệu Hợp đồng ủy quyền số công chứng 38, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/01/2022 ký giữa ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 với ông Chung Lê M đã được Công chứng viên Văn phòng công chứng Lê Quang Bảo Đ1 thì ông M không đồng ý bởi hợp đồng được lập trên cơ sở tự nguyện và đúng quy định và từ trước đến nay ông M cũng không nhận bất cứ thông báo nào từ ông Đ, bà T, ông T2, bà T3 về việc vô hiệu Hợp đồng ủy quyền trên.
Còn vấn đề tranh chấp giữa ông Đ, bà T với ông T1, ông M cho rằng không liên quan gì.
Tại phiên tòa hôm nay ông Võ Hồ Thế P2 đại diện ủy quyền cho ông M giữ nguyên bản tự khai của ông M, không trình bày bổ sung gì thêm.
* Tại bản tự khai ngày 19/3/2024 và tại phiên tòa hôm nay ông Võ Hồ Thế P2-đại diện ủy quyền của ông Chung Hồng B trình bày:
Ông B không liên quan đến việc ông T1 cho ông Đ, bà T vay tiền. Số tiền hai tỷ chín trăm triệu đồng ông T1 cho ông Đ, bà T vay là của ông T1. Ông T2, bà T3 vay tiền Ngân hàng E cũng không liên quan đến ông B và ông T1. Ông B, ông T1 không thuê ông T2, bà T3 đứng tên giùm giấy chứng nhận thửa đất 98, tờ bản đồ số 43, diện tích 455,5m², địa chỉ đất đường T, KV15, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Tại phiên tòa hôm nay, ông Đ rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông B và ông T1 hoàn trả số tiền 1.300.000.000đồng ông P2 không ý kiến. Ông P2 giữ nguyên bản tự khai trên, đồng thời đề nghị rút thủ tục luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho ông B, giữ nguyên việc ủy quyền giữa ông B với ông. Ông P2 không trình bày bổ sung gì thêm.
Quá trình giải quyết vụ án từ thụ lý đến trước khi vụ án đưa ra xét xử, các ông T1, ông B, ông M vắng mặt không lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được, đưa ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa sơ thẩm;
Đại diện Nguyên đơn – Ngân hàng giữ nguyên quan điểm như đã trình bày yêu cầu ông T2, bà T3 trả tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 03/4/2024 là 3.019.858.196 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 04/4/2024 cho đến khi ông T2, bà T3 trả hết nợ; nếu ông T2, bà T3 không trả nợ hoặc trả không hết số tiền trên thì Ngân hàng sẽ yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp, đồng thời nếu xử lý tài sản không đủ trả nợ thì ông T2, bà T3 tiếp tục trả nợ cho đến khi hết số nợ cho Ngân hàng.
Nguyên đơn - ông Đ giữ nguyên quan điểm như đã trình bày: Yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSD đất đã ký giữa bà T với ông T2, kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận QSD đất tên ông T2 chuyển tên trả lại cho ông Đ, bà T; vô hiệu hợp đồng ủy quyền ký giữa ông T2, bà T3 với ông M. Rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông T1, ông B trả số tiền 1.300.000.000 đồng; Rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc ông Đ, bà T trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng.
Ông Thế P2 phát biểu: Giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Đại diện theo ủy quyền ông H1 phát biểu: Giữ nguyên quan điểm như đã trình bày, không thống nhất yêu cầu khởi kiện của ông Đ, bà T, không thống nhất với ý kiến của ông T2 về việc yêu cầu ông T1 trả nợ cho Ngân hàng.
Ý kiến bổ sung của ông P2: Tại phiên tòa ngày 29/3/2024 do ông P2 không nắm được thông tin ông M có thực hiện công việc ủy quyền nay ông P2 bổ sung là ông M có thực hiện công việc ủy quyền thay mặt ông T2, bà T3 có trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng được vài lần.
Tại phiên tòa ngày 29/3/2024 đại diện ông T1 bổ sung chứng cứ là 01 (một) bản chính Biên nhận ngày 24/10/2020 ký giữa ông Huỳnh Ngọc Thanh T1 với ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T; 01 (một) bản pho tô (có bản chính đối chiếu) hợp đồng nhận cọc mua đất (nhà) ngày 28/01/2022 giữa ông Chung Lê M với bà Võ Mai T. Các bên đương sự còn lại không ai bổ sung chứng cứ gì thêm.
Đại diện Ngân hàng bổ sung 01 bản sao y Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0301179079 đăng ký thay đổi lần thứ 31 ngày 09/11/2023 do bà Đỗ Hà P là Chủ tịch hội đồng quản trị.
Các đương sự còn lại không ai bổ sung chứng cứ gì thêm.
Tại Bản án sơ thẩm số 25/2024/DSST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại cổ phần X đối với bị đơn ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3.
Buộc ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền tính đến ngày 03/4/2024 tổng cộng là 3.019.858.196 đồng (ba tỷ không trăm mười chín triệu, tám trăm năm mươi tám nghìn một trăm chín mươi sáu đồng), trong đó tiền gốc hợp đồng tín dụng là 2.661.434.110 đồng (hai tỷ sáu trăm sáu mươi một triệu, bốn trăm ba mươi bốn nghìn, một trăm mười đồng) và tiền lãi là 334.190.014 đồng (ba trăm ba mươi bốn triệu, một trăm chín mươi nghìn, không trăm mười bốn đồng), tiền gốc thẻ tín dụng là 17.927.120 đồng (mười bảy triệu chín trăm hai mươi bảy nghìn một trăm hai mươi đồng), tiền lãi là 6.306.952 đồng (sáu triệu ba trăm lẻ sáu nghìn chín trăm năm mươi hai đồng)) và lãi phát sinh kể từ ngày 04/4/2024 cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng, hợp đồng mở thẻ tín dụng đã ký kết.
Trường hợp bị đơn ông T2, bà T3 không có khả năng thanh toán nợ hoặc thanh toán không đủ số nợ trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tại thửa số 98, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại đường T, khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo giấy CNQSDĐ QSHNƠ và TSKGLVĐ số CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Sở Tài nguyên và Môi trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 chỉnh lý ngày 01/10/2020 đứng tên ông Trần Trung T2 theo hợp đồng thế chấp số 19/2022/EIBTĐO-TN/TC ngày 25/01/2022 đã ký giữa ông T2, bà T3 với Ngân hàng để thu hồi nợ.
Sau khi phát mãi tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì bị đơn – ông T2, bà T3 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng đến khi trả hết nợ.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký giữa bà Võ Mai T với ông Trần Trung T2.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số công chứng 92, quyển số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/9/2020 ký giữa bà Võ Mai T với ông Trần Trung T2 đã được Công chứng viên Văn phòng C2, thành phố Cần Thơ vô hiệu do giả tạo.
Bác yêu cầu của nguyên đơn – ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T về việc kiến nghị chỉnh lý trang sau giấy CNQSDĐ QSHNƠ và TSKGLVĐ số CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Sở Tài nguyên và Môi trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 chỉnh lý ngày 01/10/2020, thửa số 98, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại đường T, khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ từ ông Trần Trung T2 sang tên ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T về việc buộc ông Huỳnh Ngọc Thanh T1, Chung Hồng B trả số tiền 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng).
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T về việc yêu cầu vô hiệu Hợp đồng ủy quyền ký giữa ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 với ông Chung Lê M.
Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số công chứng 38, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/01/2022 ký giữa ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 với ông Chung Lê M đã được Công chứng viên Văn phòng C3 vô hiệu do giả tạo.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn-ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T về việc ông Đ, bà T trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo theo qui định.
Ngày 16/4/2022 Nguyên đơn ông Đào Minh Đ và bà Võ Mai T kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm đối với phần tuyên quyền phát mãi tài sản tại thửa số 98 có nguồn gốc là tài sản của ông, bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự giữ nguyên yêu cầu, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: Thẩm phán- chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Hội và những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Trên cơ sở xem xét chứng cứ và diễn biến tại phiên tòa, cho thấy Bản án sơ thẩm xử nhận xét đánh giá chứng cứ và quyết định là có căn cứ. Ông Đ, bà T kháng cáo không cung cấp thêm chứng cứ mới. Tuy nhiên tại phiên tòa các đương sự tự thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ trả nợ và xử lý tài sản thế chấp nên đề nghị ghi nhận. Đề nghị sửa một phần Bản án sơ thẩm theo tự nguyện thỏa thuận của đương sự tại phiên tòa.
- Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn - Ngân hàng yêu cầu Bị đơn-ông T2, bà T3 trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký; Nguyên đơn-ông Đ, bà T yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất đã ký giữa bà T với ông T2; vô hiệu Hợp đồng ủy quyền đã ký giữa ông T2, bà T3 với ông M. Do ông T2, bà T3 có nơi cư trú tại quận B, vì vậy cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng; yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất; Yêu cầu vô hiệu Hợp đồng ủy quyền” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ là có căn cứ.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn-Ngân hàng thương mại cổ phần X:
[2.1] Căn cứ vào lời khai của đại diện Nguyên đơn và đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, xác định: Ngày 25/01/2022 giữa Ngân hàng và ông T2, bà T3 có ký Hợp đồng tín dụng số LAV220008354/1516 để cho vay tổng số tiền 2.800.000.000 đồng (hai tỷ tám trăm triệu đồng). Thời hạn vay 240 tháng. Ngày 21/3/2022 Ngân hàng đã cấp Thẻ tín dụng cho ông T2 sử dụng Thẻ tín dụng, thời hạn thẻ 36 tháng. Nguyên đơn, Bị đơn thừa nhận số tiền đã được giải ngân. Quá trình thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng ông T2, bà T3 trả được cho Ngân hàng số nợ gốc là 138.565.890 đồng và tiền lãi là 220.893.349 đồng. Từ ngày 25/12/2022 ông T2, bà T3 đã không trả nữa, từ đó ông T2, bà T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông T2, bà T3 trả nợ nhưng ông T2, bà T3 vẫn không thanh toán cho Ngân hàng. Đối với T5 tín dụng ông T2 đã không thanh toán từ ký sao kê tháng 9/2023. Vậy tính đến ngày xét xử sơ thẩm (03/4/2024) ông T2, bà T3 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 3.019.858.196đồng ((ba tỷ không trăm mười chín triệu, tám trăm năm mươi tám nghìn, một trăm chín mươi sáu đồng), trong đó: nợ gốc hợp đồng tín dụng: 2.661.434.110đồng, lãi 334.190.014đồng; nợ thẻ tín dụng: 24.234.072đồng) là phù hợp.
[2.2] Đối với lời trình bày của ông T2, bà T3 cho rằng do ông T1, ông B thuê đứng hộ tên QSD đất để vay ngân hàng, mỗi tháng trả tiền thù lao là 2.000.000đồng (hai triệu đồng), tuy nhiên ông T2, bà T3 không có chứng cứ để chứng minh cho việc đứng tên hộ và đến nay vẫn chưa nhận được khoản tiền thù lao nào từ ông T1, ông B. Mặt khác ông T2, bà T3 cũng không có động thái hay yêu cầu khởi kiện buộc ông T1, ông B trả tiền thù lao này. Hơn nữa đại diện ủy quyền của ông T1, ông B cũng không thừa nhận có thuê ông T2, bà T3 đứng tên hộ như ông T2, bà T3 trình bày. Do đó lời trình bày của ông T2, bà T3 không có cơ sở để xem xét.
Như vậy căn cứ vào Điều 4 mục 43 Phụ lục (Đính kèm Hợp đồng tín dụng số LAV220008354/1516) thì Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn đối với ông T2, bà T3 phù hợp với quy định tại Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó yêu cầu của Ngân hàng có cơ sở nên chấp nhận.
[2.3] Về tài sản bảo đảm: Căn cứ vào Hợp đồng thế chấp số 19/2022/EIBTĐO-TN/TC ngày 25/01/2022 ký giữa Ngân hàng với ông T2, bà T3 để thế chấp QSD đất tại thửa 98, tờ bản đồ số 43, đất tọa lạc tại đường T, KV A, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo CNQSDĐ QSHNƠ và TSKGLVĐ số CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Sở Tài nguyên và Môi trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 chỉnh lý ngày 01/10/2020 đứng tên ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3.
[2.3.1] Xét quá trình vay tín dụng tại Ngân hàng thì ông T2, bà T3 có đăng ký thế chấp QSD đất trên và cũng có đơn xin xác nhận tình trạng nhà (đất) ngày 21/01/2022 của Ngân hàng được UBND phường C xác nhận ông Trần Trung T2 trực tiếp đứng tên Giấy chứng nhận QSD thửa 98, tờ bản đồ 43 đất tọa lạc tại KV A, phường C. Hiện đất sử dụng ổn định, không tranh chấp, đất chưa quy hoạch. Và trước khi giải ngân Ngân hàng E đã tiến hành xuống thẩm định lại phần tài sản cần thế chấp. Quá trình thẩm định tài sản Ngân hàng E cung cấp cho Tòa án toàn bộ hồ sơ thẩm định tài sản kèm hình ảnh hiện trạng tài sản thế chấp. Tại phiên tòa cả ông Đ, ông T2 đều thừa nhận nhân viên Ngân hàng có đến thẩm định, ông Đường được ông T1 yêu cầu vắng mặt và ông Đ mở của nhà để Ngân hàng đến thẩm định. Như vậy phía Ngân hàng có thẩm định tài sản cho vay là đúng quy định và ông Đ chồng bà T, ông T2, bà T3 cũng biết việc Ngân hàng xuống thẩm định tài sản trước khi cho vay. Căn cứ vào mục 1 phần II. Về dân sự tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự quy định: “...2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa...”.
[2.3.2] Căn cứ với quy định trên thì Hợp đồng thế chấp tài sản giữa Ngân hàng và ông T2, bà T3 đã được đăng ký thế chấp đúng quy định. Quá trình giải quyết vụ án đã có giải thích cho ông Đ nhưng ông không yêu cầu hủy Hợp đồng thế chấp và không đương sự nào yêu cầu hủy Hợp đồng thế chấp nên không đặt ra xem xét.
Do Bị đơn - ông T2, bà T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán thuộc trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 8 của Hợp đồng thế chấp nêu trên. Cho nên yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ của Ngân hàng là phù hợp. Xét yêu cầu kháng cáo của ông Đ và bà T về việc xử lý tài sản thế chấp thấy rằng tại phiên tòa phúc thẩm không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác, nên không có cơ sở để xem xét, Bản án sơ thẩm xử phần này là có căn cứ được giữ nguyên.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T, cụ thể như sau:
[3.1] Yêu cầu thứ nhất: Vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất (gọi tắt là hợp đồng chuyển nhượng) số công chứng 92, quyển số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/9/2020 giữa bà Võ Mai T với ông Trần Trung T2 đã được Công chứng viên Văn phòng C2, thành phố Cần Thơ. Kiến nghị thu hồi chỉnh lý tên ông T2 sang lại tên cho ông Đ, bà T, nhận thấy:
Ngày 24/9/2020, bà T có ký chuyển nhượng cho ông T2 thửa đất có diện tích 455,5m², thửa số 98, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại đường T, KV15, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo CNQSDĐ QSHNƠ và TSKGLVĐ số CK 677500, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số CS04899 do Sở Tài nguyên và Môi Trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018. Nguồn gốc đất chuyển nhượng thì bà Võ Mai T là người được nhận tặng cho từ ông Võ Tứ Đ2, bà Mai Ngọc H2, ông Võ Trung T6 vào ngày 05/3/2018 và bà T đã được cấp Giấy chứng nhận QSD đất ngày 20/3/2018, đến ngày 24/9/2020 bà T chuyển nhượng cho ông T6. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 100.000.000 đồng.
- Về hình thức của hợp đồng: Hợp đồng chuyển nhượng ký giữa bà Võ Mai T và ông Trần Trung T2 đã được công chứng, chứng thực tại Văn phòng C2, thành phố Cần Thơ là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.
- Xét về nội dung và quá trình thực hiện hợp đồng:
Một trong những nội dung thỏa thuận trong hợp đồng có phần thỏa thuận về giá trị chuyển nhượng là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Căn cứ Quyết định số 19/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND thành phố C quy định Bảng giá đất định kỳ 05 năm (2020-2024); Quyết định số 15/2021/QĐ-UBND ngày 09/11/2021 của UBND thành phố C sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quyết định số 19/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND thành phố C quy định Bảng giá đất định kỳ 05 năm (2020-2024), đối với phần đất tại thửa đất số 98, tờ bản đồ số 43, địa chỉ: Đường T, KV15, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS04899 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 20/3/2018, có giá từ 173.800 đồng đến 2.000.000 đồng/m2. Mặt khác, căn cứ vào Biên bản thẩm định của Ngân hàng thì QSD đất trên được thẩm định theo giá thị trường với giá 3.889.000.000 đồng. Tại phiên tòa ông T2 cho rằng giá thỏa thuận do ông T1, B yêu cầu chứ ông không biết. Như vậy giá thỏa thuận trong hợp đồng không phù hợp.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ, bà T cũng xuất trình Hợp đồng cam kết ngày 23/10/2020 (gọi tắt là hợp đồng cam kết) về việc ông Đ có mượn của ông T1 số tiền 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng) với điều kiện ông Đ ký chuyển nhượng cho ông T1 hợp đồng mua bán đất với diện tích 455,5m² (trong đó có 40m² thổ cư), số thửa 98, tờ bản đồ 43. Thỏa thuận cam kết này bà T thừa nhận có biết. Dù trong hợp đồng cam kết không ghi số Giấy chứng nhận QSD đất, vị trí đất nhưng cả ông Đ, bà T và ông Phan Long H1 - đại diện ủy quyền của ông T1 đều thừa nhận đất đề cập trong hợp đồng cam kết chính là thửa đất trong Hợp đồng chuyển nhượng đã ký giữa bà T với ông T2, mục đích để ông T2 đứng vay tiền tại Ngân hàng. Như vậy hợp đồng chuyển nhượng thật chất là giả tạo nhầm che dấu một giao dịch khác nên yêu cầu này của ông Đ, bà T có căn cứ chấp nhận.
Vì quá trình thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đã hoàn tất và ông T2 đã được chỉnh lý sang tên và ông T2, bà T3 cũng đã thế chấp Ngân hàng Thương mại cổ phần X – Chi nhánh T7 để đảm bảo khoản vay và Ngân hàng đã có yêu cầu khởi kiện phát mãi tài sản này để đảm bảo thu hồi nợ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Đ, bà T không yêu cầu giải quyết hậu quả của việc vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng và cũng không yêu cầu hủy Hợp đồng thế chấp (bút lục số 430) nên cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận QSD đất và điều chỉnh từ tên ông T2 sang lại tên ông Đ, bà T. Như phân tích tại đoạn [2.1]-[2.2] thì QSD đất trên đã được Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Trường hợp khi ông T2, bà T3 thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ trả lại tài sản thế chấp, khi đó giữa ông Đ, bà T với ông T2, bà T3 tự thương lượng giải quyết. Nên yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Đ, bà T không được chấp nhận.
[3.2] Yêu cầu thứ hai: Yêu cầu ông T1, ông B hoàn trả lại số tiền 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng), tại phiên tòa ông Đ đề nghị rút yêu cầu này.Xét thấy việc rút yêu cầu của ông Đ là sự tự nguyện và không trái quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận.
[3.3] Yêu cầu thứ ba: Vô hiệu Hợp đồng ủy quyền ngày 28/01/2022 đã ký giữa ông T2, bà T3 với ông M tại Văn phòng C3, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về hình thức Hợp đồng ủy quyền có công chứng tại Văn phòng C3 đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung và thực hiện hợp đồng:
Tại phiên tòa đại diện ủy quyền của ông M cho rằng do bà T có thỏa thuận bán phần đất như đề cập trên cho ông M và để đảm bảo thực hiện được giao kết nên mới có phát sinh hợp đồng ủy quyền, mục đích khi bà T trả xong nợ Ngân hàng thì ông M là người nhận Giấy chứng nhận QSD đất (bản chính) và để thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất cho ông. Với ông T2, bà T3 cho rằng do ông M yêu cầu ký ủy quyền nên ông ký, song các bên đã không thông báo cho Ngân hàng biết. Nay ông T2, bà T3 đồng ý vô hiệu hợp đồng theo yêu cầu của ông Đ, bà T. Xét thấy, tại thời điểm giao kết hợp đồng nhận cọc mua bán đất thì giao dịch này không có giá trị bởi QSD đất trên do ông T2, bà T3 đứng tên và cũng đã thế chấp cho Ngân hàng, thì bà T không có quyền thực hiện giao dịch. Như vậy có thể thấy rằng Hợp đồng ủy quyền nhầm che dấu một giao dịch khác nên bị vô hiệu. Mặt khác, như đã phân tích tại [2.1]-[2.2] có cơ sở khẳng định yêu cầu khởi kiện của ông Đ là có căn cứ được chấp nhận.
[3.4] Yêu cầu thứ tư: Ông Đ, bà T trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng: Tại phiên tòa ông Đ đề nghị rút yêu cầu trên. Xét việc rút yêu cầu của ông Đ là sự tự nguyện và không trái quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu kháng của ông Đ, bà T về việc không đồng ý phát mãi tài sản thế chấp. Như trên nhận định tại [2.3.2] là không có cơ sở. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm ông Đ tự nguyện trả số nợ vay của Ngân hàng theo Bản án sơ thẩm tuyên thay cho ông T2, bà T3 để được nhận lại Giấy chứng nhận và chuyển trả tên lại cho ông Đ, bà T kể cả tiền án phí và chi phí thẩm định, đối với việc tự nguyện của ông Đ, bà T được ông T2 và Ngân hàng đều đồng ý, các đương sự khác không có ý kiến. Xét thấy đây là tự nguyện thỏa thuận của các đương sự phù hợp với qui định của pháp luật và nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên nên cần ghi nhận. Do vậy sửa Bản án sơ thẩm theo thỏa thuận đối với phần này.
[5] Quan điểm của Kiểm sát viên: Nhận xét và đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn-ông T2, bà T3 phải chịu án phí do yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng được chấp nhận (ông Đ tự nguyện nộp thay).
Yêu cầu của nguyên đơn-Ngân hàng được chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Nguyên đơn-ông Đ, bà T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đối với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn-ông T2, bà T3, ông M phải chịu án phí đối với yêu cầu nguyên đơn-ông Đ, bà T được chấp nhận một phần.
[7] Về chi phí thẩm định, phí trích lục hồ sơ: Tổng cộng là 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Do Ngân hàng đã nộp tạm ứng nên ông T2, bà T3 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền này (ông Đ tự nguyện nộp thay).
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Đường đ chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1, 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T.
Giữ nguyên và sửa một phần Bản án theo thỏa thuận của các đương sự.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại cổ phần X đối với bị đơn ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3.
Buộc ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền tính đến ngày 03/4/2024 tổng cộng là 3.019.858.196 đồng (ba tỷ không trăm mười chín triệu, tám trăm năm mươi tám nghìn một trăm chín mươi sáu đồng), trong đó tiền gốc hợp đồng tín dụng là 2.661.434.110 đồng (hai tỷ sáu trăm sáu mươi một triệu, bốn trăm ba mươi bốn nghìn, một trăm mười đồng) và tiền lãi là 334.190.014 đồng (ba trăm ba mươi bốn triệu, một trăm chín mươi nghìn, không trăm mười bốn đồng), tiền gốc thẻ tín dụng là 17.927.120 đồng (mười bảy triệu chín trăm hai mươi bảy nghìn một trăm hai mươi đồng), tiền lãi là 6.306.952 đồng (sáu triệu ba trăm lẻ sáu nghìn chín trăm năm mươi hai đồng) và lãi phát sinh kể từ ngày 04/4/2024 cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng, hợp đồng mở thẻ tín dụng đã ký kết.
Trường hợp bị đơn ông T2, bà T3 không có khả năng thanh toán nợ hoặc thanh toán không đủ số nợ trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tại thửa số 98, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại đường T, khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo giấy CNQSDĐ QSHNƠ và TSKGLVĐ số CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Sở Tài nguyên và Môi trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 chỉnh lý ngày 01/10/2020 đứng tên ông Trần Trung T2 theo Hợp đồng thế chấp số 19/2022/EIBTĐO-TN/TC ngày 25/01/2022 đã ký giữa ông T2, bà T3 với Ngân hàng để thu hồi nợ.
Sau khi phát mãi tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì Bị đơn – ông T2, bà T3 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng đến khi trả hết nợ.
Ghi nhận sự tự nguyện về chuyển giao nghĩa vụ trả nợ:
- Ghi nhận tự nguyên của ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T trả thay số nợ trên của ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X, kể cả nộp thay phần án phí và chi phí thẩm định.
- Sau khi ông Đ, bà T thanh toán xong số nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có trách nhiệm giải chấp và giao trả Giấy chứng nhận QSD đất và quyền sở hữu nhà ở số CK 677500 chỉnh lý ngày 01/10/2020 đứng tên ông Trần Trung T2 cho ông Đ, bà T.
- Ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 thực hiện nghĩa vụ chuyển tên QSD đất và quyền sở hữu nhà ở số CK677500 chỉnh lý ngày 01/10/2020 đứng tên ông Trần Trung T2 sang tên ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T (Nếu ông T2, bà T3 không thực hiện thì cơ quan chức năng thu hồi và cấp mới lại cho ông Đ, bà T theo qui định).
- Trường hợp ông Đ, bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền phát mãi tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 19/2022/EIBTĐOTN/TC ngày 25/01/2022 để thu hồi nợ.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T về việc yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất đã ký giữa bà Võ Mai T với ông Trần Trung T2.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số công chứng 92, quyển số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/9/2020 ký giữa bà Võ Mai T với ông Trần Trung T2 đã được Công chứng viên Văn phòng C2, thành phố Cần Thơ vô hiệu do giả tạo.
Bác yêu cầu của nguyên đơn – ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T về việc kiến nghị chỉnh lý trang sau giấy CNQSDĐ QSHNƠ và TSKGLVĐ số CK 677500, số vào sổ cấp GCN CS04899 do Sở Tài nguyên và Môi trường TP.Cần Thơ cấp ngày 20/3/2018 chỉnh lý ngày 01/10/2020, thửa số 98, tờ bản đồ số 43, tọa lạc tại đường T, khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ từ ông Trần Trung T2 sang tên ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T về việc buộc ông Huỳnh Ngọc Thanh T1, Chung Hồng B trả số tiền 1.300.000.000đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng).
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T về việc yêu cầu vô hiệu Hợp đồng ủy quyền ký giữa ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 với ông Chung Lê M.
Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số công chứng 38, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/01/2022 ký giữa ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 với ông Chung Lê M đã được Công chứng viên Văn phòng C3 vô hiệu do giả tạo.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T về việc ông Đ, bà T trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn - ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 phải chịu 92.397.164 đồng (chín mươi hai triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn một trăm sáu mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Ghi nhận ông Đ, bà T nộp thay số tiền này.
Bị đơn - ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3, ông Chung Lê M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại cổ phần X được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 43.577.344 đồng (bốn mươi ba triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn ba trăm bốn mươi bốn đồng) theo Biên lai thu số 0002162 ngày 24/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn - ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 26.100.000đồng (hai mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002100 ngày 27/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Về chi phí thẩm định, phí trích lục hồ sơ: Ông Trần Trung T2, bà Tạ Thị Minh T3 có trách nhiệm hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Ghi nhận ông Đ, bà T nộp thay số tiền này.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Đào Minh Đ, bà Võ Mai T được nhận lại 300.000đồng, theo Biên lai thu số 0002634 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 19/8/2024.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hồng Dung |
Bản án số 360/2024/DS-PT ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng; yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng qsd đất; yêu cầu vô hiệu hợp đồng ủy quyền
- Số bản án: 360/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng; Yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất; Yêu cầu vô hiệu Hợp đồng ủy quyền
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên và sửa một phần án sơ thẩm
