Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31/7/2024

Về việc "Tranh chấp ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc Lan
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Tạ Quang Trung
    2. Ông Nguyễn Thanh Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Loan Anh - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Kim N, sinh năm 1994 (có mặt)

Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn: Ông Lê Công T, sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Võ Kim N trình bày:

Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 13/3/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, về sau vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không có sự quan tâm lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nên nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn với nội dung yêu cầu như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Kim N yêu cầu xin được ly hôn với ông Lê Công T.

Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Lê Tấn Đ (nam), sinh ngày 01/5/2010, Lê Triệu Ngọc H (nữ), sinh ngày 02/11/2013. Bà yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không.

Về nợ chung: Không.

Bị đơn ông Lê Công T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và nợ chung như bà Võ Kim N trình bày là đúng, nay bà Võ Kim N xin ly hôn thì ông có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N vì ông còn thương vợ con.

Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên tên Lê Tấn Đ (nam), sinh ngày 01/5/2010, Lê Triệu Ngọc H (nữ), sinh ngày 02/11/2013. Ông yêu cầu được nuôi, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không.

Về nợ chung: Không.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông T. Về con chung: Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông T cho rằng ông còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn với bà N. Ông yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà N khởi kiện xin ly hôn với ông T nên xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn, giữa công dân và công dân được pháp luật dân sự điều chỉnh, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà N, ông Thủ tự n tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/3/2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang). Nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình. Hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, các thành viên trong gia đình phải có sự quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo bà N thì giữa bà và ông T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, ông T không lo kinh tế gia đình và thường tham gia đánh bạc, vợ chồng không có sự quan tâm chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin ly hôn với ông T.

Tại phiên tòa hôm nay ông T cũng thừa nhận có tham gia đánh bạc và hứa sẽ sửa đổi nên ông không đồng ý ly hôn, tuy nhiên trong quá trình giải quyết ông không đưa ra được phương án nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông, bà đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên bà N xin ly hôn với ông T là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N được ly hôn với ông T là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Xét về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Lê Tấn Đ (nam), sinh ngày 01/5/2010, Lê Triệu Ngọc H (nữ), sinh ngày 02/11/2013. bà N, ông T đều yêu cầu được nuôi con chung. Tuy nhiên tại phiên tòa ông T thừa nhận do bận đi làm nên từ trước đến nay con chung là do mẹ ruột và bà N trực tiếp chăm sóc và trong quá trình giải quyết cháu Đ, cháu H có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà N. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Do nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà N, ông T xác định là không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí theo quy định quy định.

[6] Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 174, Điều 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 5, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Kim N được ly hôn với ông Lê Công T.
  • Về con chung: Giao tên Lê Tấn Đ (nam), sinh ngày 01/5/2010, Lê Triệu Ngọc H (nữ), sinh ngày 02/11/2013 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng.
  • Về phần cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, nếu một trong các bên đương sự có yêu cầu thì được giải quyết thành vụ kiện khác.
  • Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T không ai được quyền ngăn cản.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn Bà Võ Kim N phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0006298 ngày 13/05/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện phong Đ1, thành phố Cần Thơ thành án phí.
  • Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND H. Phong Điền;
  • - Chi cục THADS H. Phong Điền;
  • - UBND xã Giai Xuân;
  • - Lưu HS (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Cúc Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger