TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 36/2024/DS-ST Ngày 31 tháng 5 năm 2024 Về việc tranh chấp hủy hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo; Bà Trần Thị Ánh Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp dân sự yêu cầu hủy bỏ hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1965; địa chỉ: số A, đường B, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang An Giang.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Minh P, sinh năm 1953 và ông Lê Hồng N, sinh năm 1951; cùng địa chỉ: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang,
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đại N1, sinh 1978; cư trú 579/56/11 Q, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy ủy quyền ngày 26/01/2024 được công chứng tại Văn phòng C).
Tất cả các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T trình bày:
Ngày 12/9/2023 ông Lê Hồng N, bà Nguyễn Thị Minh P, có nhận tiền đặt cọc số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng từ bà Nguyễn Thanh T để đảm bảo việc chuyển nhượng nhà, đất là nhà trọ Ngọc Hiệp T1) gắn liền các thửa đất gồm:
- - Thửa đất số 09, tờ bản đồ số 07, diện tích 56 m², tọa lạc xã V, thành phố C, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00236.QSDĐ/Bc ngày 28/3/2002.
- - Thửa đất số 67, tờ bản đồ số 07, diện tích 56 m², tọa lạc xã V, thành phố C, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00154.QSDĐ/Bc ngày 17/3/2001.
- - Thửa đất số 302, tờ bản đồ số 36, diện tích 25,8 m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK853544, số vào số GCN CH04470 do Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh An Giang cấp ngày 11/01/2013.
- - Thửa đất số 301, tờ bản đồ số 36, diện tích 46,7 m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD771553, số vào sổ GCN H02543fE do Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh An Giang cấp ngày 18/12/2007.
Các đương sự có lập Tờ cam kết hợp đồng mua bán đặt cọc nhà trọ “Ngọc Hiệp T1”, giá trị hợp đồng chuyển nhượng 6.400.000.000 đồng, số tiền đặt cọc 500.000.000 đồng; các bên có ký tên thỏa thuận là vào ngày 12/11/2023 ông N, bà P sẽ đến Văn phòng C để giao kết hợp đồng chuyển nhượng, bà T thanh toán đủ số tiền còn lại. Tuy nhiên, ngày 12/11/2023 ông N, bà P không đến như thỏa thuận và bà tìm hiểu thông tin tại Văn phòng đăng ký đất đai được biết các giấy chứng nhận QSDĐ của ông N – bà P có tranh chấp nên không sang tên được.
Nay, bà T khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng đặt cọc giữa bà T với ông N, bà P; trả lại tiền đặt cọc 500.000.000 đồng và tiền bồi thường tiền cọc là 2.000.000.000 đồng, tổng số tiền 2.500.000.000 đồng.
Qúa trình hòa giải, và tại phiên tòa, bà T rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu hủy bỏ các hợp đồng chuyển nhượng, đặt cọc nhà, đất, yêu cầu ông N, bà P trả lại tiền cọc 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) và bồi thường phạt cọc cho bà T 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), tổng cộng là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng).
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 BLTTDS. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203, 208 BLTTDS năm 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết vụ án:
Qua nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 12/9/2023, giữa bà T với ông N – bà P có thỏa thuận đặt cọc số tiền 500.000.000 đồng để bảo đảm việc chuyển nhượng 04 thửa đất và tài sản gắn liền với đất (nhà trọ Ngọc Hiệp T1), gồm: Thửa đất số 09, tờ bản đồ số 07, diện tích 56 m², tọa lạc xã V, thành phố C theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) số 00236.QSDĐ/Bc ngày 28/3/2002; Thửa đất số 67, tờ bản đồ số 07, diện tích 56 m², tọa lạc xã V, thành phố C, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00154.QSDĐ/Bc ngày 17/3/2001; Thửa đất số 302, tờ bản đồ số 36, diện tích 25,8 m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK853544, số vào số GCN CH04470 do Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh An Giang cấp ngày 11/01/2013; Thửa đất số 301, tờ bản đồ số 36, diện tích 46,7 m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD771553, số vào số GCN H02543fE do Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh An Giang cấp ngày 18/12/2007; giá chuyển nhượng là 6.400.000.000 đồng.
Xét thấy, việc giao kết hợp đồng đặt cọc giữa bà T với ông N – bà P là có thật. Khi thỏa thuận nhận cọc để thực hiện việc chuyển nhượng nhà – đất thì ông N – bà P cho bà T biết các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp tại ngân hàng, tại biên bản đối chất ngày 15/3/2024 bà T thừa nhận khi thỏa thuận đặt cọc ngày 12/9/2023 đã được ông N – bà P cho biết các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp trong Ngân hàng; văn bản trả lời (số 542/CNCĐ-HC ngày 24/4/2024) của Văn phòng Đ – Chi nhánh C1 xác định do ông N – bà P chưa cung cấp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa thể nhận kết quả trích đo. Xét tài sản đang được Ngân hàng nhận thế chấp nhưng các đương sự thỏa thuận chuyển nhượng khi chưa được sự đồng ý của bên nhận thế chấp (Ngân hàng) dẫn đến đối tượng hợp đồng không thể thực hiện. Do đó, căn cứ các Điều 328, 385, 407, 408 BLDS tuyên bố hợp đồng đặt cọc nói trên bị vô hiệu. Buộc ông N – bà P phải trả cho bà T số tiền cọc đã nhận là 500.000.000 đồng; không chấp nhận đối với việc bà T yêu cầu bồi thường tiền cọc với số tiền 500.000.000 đồng.
Đối với việc bà T khởi kiện yêu cầu ông N – bà P bồi thường tiền cọc là 2.000.000.000 đồng, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà T xác định rút lại yêu cầu bồi thường cọc đối với số tiền 1.500.000.000 đồng. Xét thấy, việc bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện là sự tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật, cần đình chỉ theo quy định tại Điều 244 BLTTDS năm 2015.
Từ phân tích trên, đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Tranh chấp dân sự về yêu cầu hủy bỏ hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất”, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung
[1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét việc bà Nguyễn Thanh T và vợ chồng ông Lê Hồng N, bà Nguyễn Thị Minh P thỏa thuận chuyển nhượng nhà, đất (nhà trọ Ngọc Hiệp T1) tọa lại tại khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang là có thật. Để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng này, các bên đã lập Tờ cam kết hợp đồng mua bán đặt cọc nhà trọ “Ngọc Hiệp T1”, giá trị hợp đồng chuyển nhượng 6.400.000.000 đồng, bà Nguyễn Thanh T đặt cọc 500.000.000 đồng để bảo đảm việc chuyển nhượng các thửa đất và tài sản gắn liền với đất (nhà trọ Ngọc Hiệp T1), gồm: Thửa đất số 09, tờ bản đồ số 07, diện tích 56 m², tọa lạc xã V, thành phố C theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) số 00236.QSDĐ/Bc ngày 28/3/2002; Thửa đất số 67, tờ bản đồ số 07, diện tích 56 m², tọa lạc xã V, thành phố C, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00154.QSDĐ/Bc ngày 17/3/2001; Thửa đất số 302, tờ bản đồ số 36, diện tích 25,8 m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK853544, số vào số GCN CH04470 do Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh An Giang cấp ngày 11/01/2013; Thửa đất số 301, tờ bản đồ số 36, diện tích 46,7 m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD771553, số vào số GCN H02543fE do Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh An Giang cấp ngày 18/12/2007. Các bên thỏa thuận đặt cọc vào ngày 12/9/2023, từ 45 - 60 ngày sau bà T sẽ trả dứt điểm số tiền còn lại cho ông N, bà P. Nếu ông N, bà P không bán nữa thì phải trả tiền cọc 500.000.000 đồng và bồi thường thêm 2.000.000.000 đồng. Còn bà T không mua thì mất cọc 500.000.000 đồng và trả thêm 1.500.000.000 đồng. Vào ngày đặt cọc 12/9/2023, giao kèo giữa hai bên đồ đạc sử dụng trong nhà trọ đều sang nhượng lại cho bà T.
Theo bà T trình bày, do bên bị đơn ông N, bà P có lỗi không thực hiện đúng cam kết theo thỏa thuận, trễ hạn so với thỏa thuận 45 - 60 ngày vẫn chưa giao đủ giấy tờ hợp lệ cho bà T đi công chứng làm thủ tục sang tên, ngoài ra, bà T còn nghe thông tin đất ông N, bà P có tranh chấp với người khác, phải thanh toán tiền cho người khác, vì lẽ đó mà bà T yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng đặt cọc, trả lại tiền đã đặt cọc 500.000.000 đồng và tiền bồi thường cọc là 2.000.000.000 đồng.
Tuy nhiên, phía bị đơn ông N, bà P phản bác lại ý kiến của bà T, cho rằng nhà, đất của ông, bà từ trước đến nay không có phát sinh tranh chấp với cá nhân, tổ chức nào khác. Khi thỏa thuận chuyển nhượng nhà, đất cho bà T, thì ông, bà N, P thực hiện đúng theo thỏa thuận, đi tìm nhà trọ khác thuê để ở nhằm giao mặt bằng đúng hạn cho bà T; đến Văn phòng C để làm thủ tục ký sang tên, nhưng bà T lại không có mặt, từ đó mà chưa thực hiện được; đồng thời, qua hướng dẫn của cơ quan đo đạc, khi làm thủ tục chuyển nhượng phải đo đạc, phục hồi các mốc ranh và hợp nhất các thửa đất. Chính từ đó, mà có các điểm, mốc ranh do thời điểm cấp giấy trước đây so với bây giờ không trùng khớp, dẫn đến định vị mốc ranh không chính xác với hộ bất động sản liền kề, tuy nhiên, ông N, bà P cũng đã giải quyết thỏa thuận xong, không có phát sinh tranh chấp gì cả với mục đích giao nhà, đất cho bà T như cam kết trong hợp đồng. Đến thời điểm này, bị đơn không có lỗi, vẫn mong muốn giao kết hợp đồng với bà T, vì hiện nay bị đơn còn dư nợ tại Ngân hàng số tiền 3.300.000.000 đồng, đã chuyển sang nợ xấu, ông N, bà P muốn thanh toán cho Ngân hàng xong, còn khoản dư còn lại thì ổn định cuộc sống nơi khác.
Qúa trình hòa giải, cũng như tại phiên toà, bà T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng đặt cọc, chỉ yêu cầu ông N, bà P trả lại số tiền bà đã đặt cọc 500.000.000 đồng và bồi thường 500.000.000 đồng, tổng cộng 1.000.000.000 đồng. Bị đơn đồng ý hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng với bà T, hoàn trả lại tiền cọc 500.000.000 đồng cho bà T, nhưng không chấp nhận yêu cầu phạt cọc 500.000.000 đồng.
[2] Tại Công văn số 145/UBND-TP ngày 03/5/2024 của Ủy ban nhân dân phường N trả lời: “………Không tìm thấy hồ sơ tranh chấp có liên quan đến tên người tranh chấp đất tại phường N tên Nguyễn Thị Minh P, sinh năm 1953 và ông Lê Hồng N, sinh năm 1951”. Như vậy, việc bà T cho rằng đất có tranh chấp là không có căn cứ.
[3] Theo Công văn phúc đáp số 141/PCC ngày 15/4/2024 của Phòng C2 trả lời: “Bên mua là bà Nguyễn Thanh T có gởi bản photo giấy tờ đất để yêu cầu soạn thảo Hợp đồng chuyển nhượng kèm theo là mảnh giấy ghi giá mua bán và các lần giao tiền... Ông bà Lê Hồng N – Nguyễn Thị Minh P đến nhân viên Nguyễn Trọng Q có trao đổi về cách thức giao nhận tiền theo nội dung ghi trên mảnh giấy của bên mua, nếu đồng ý thì mới soạn thảo Hợp đồng chuyển nhượng. Bên bán có điện thoại trao đổi với bên mua, nội dung không được rõ, rồi ra về. Sau đó bên mua đến nhận lại hồ sơ”. Như vậy, qua nội dung trên, thể hiện các bên có thỏa thuận chuyển nhượng nhà, đất, nhưng khi đến liên hệ công chứng làm thủ tục thì đôi bên không gặp gỡ, trao đổi, chỉ qua tin nhắn, điện thoại, nguyên đơn nói có đến, bên bị đơn nói không, nguyên đơn có ý kiến dần lại 1.000.000.000 đồng, khi xong giấy tờ mới đưa 1.000.000.000 đồng này, nhưng nội dung này không có trong thỏa thuận ban đầu, nên bị đơn không đồng ý ký tên, từ đó dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng chưa thực hiện được, các bên lại không gặp gỡ nhau trực tiếp, bàn cách thức, biện pháp tháo gỡ nhằm thể hiện ý chí muốn giao kết hợp đồng, trái lại, mâu thuẫn diễn ra ngày càng gay gắt, từ đó bà T gửi đơn khởi kiện.
Theo Công văn số 543/CNCĐ-HC ngày 24/4/2024 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C1 trả lời: “Văn phòng Đăng ký đất đai – Chi nhánh C1 có tiếp nhận hồ sơ đo đạc hợp thửa các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00236QSDĐ/Bc,0015 QSDĐ/Bc, CH04470, H02543fE của ông Lê Hồng N và bà Nguyễn Thị Minh P, số biên nhận: 3032512023001079, ngày tiếp nhận 17/11/2023, ngày trả kết quả: 27/12/2023. Văn phòng Đăng ký đất đã hoàn thành sản phẩm trích đo khu đất”. Văn phòng đăng ký đất đai yêu cầu ông N, bà P giao bản chính quyền sử dụng đất. Do không có giấy tờ về bản chính (đang thế chấp Ngân hàng) giao nộp, nên ông N, bà P không nhận được kết quả đo đạc, từ đó không thực hiện đúng thời hạn thỏa thuận với bà T.
Mặt khác, khi giao dịch đặt cọc để nhằm chuyển nhượng nhà, đất, các bên đều biết ông N, bà P thế chấp cho Ngân hàng nhà, đất trên.
Căn cứ Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nghĩa vụ của bên thế chấp: “Không được bán, thay thế trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 321 của Bộ luật Dân sự”.
Bà T khi mua bán, chuyển nhượng nhà, đất với ông N, bà P có đến xem xét thực địa nhà, đất, có trao đổi, thương lượng về giá, biết rõ tài sản đang thế chấp cho Ngân hàng, nhưng vẫn mong muốn nhận chuyển nhượng, kể cả ông N, bà P cũng mong muốn chuyển nhượng, trong khi chưa có ý kiến đồng ý hay không đồng ý của bên nhận tài sản thế chấp là Ngân hàng. Do đó, hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất giữa các bên là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật theo Điều 123 và Điều 407 Bộ luật Dân sự, các bên bà P, ông N và bà T đều có lỗi ngang nhau trong việc dẫn đến hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng nhà, đất vô hiệu. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bà T chưa nhận tài sản nhà, đất, hiện nay nhà, đất này đều do ông N, bà P đang quản lý, sử dụng. Vì vậy, không có phát sinh thiệt hại xảy ra.
Từ những nhận định, phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà T yêu cầu hủy bỏ hợp đồng là không có căn cứ, do hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng vi phạm điềm cấm pháp luật dẫn đến hợp đồng không thực hiện được, nên tuyên vô hiệu, bà T được nhận lại tiền cọc 500.000.000 đồng, vì là hợp đồng vô hiệu nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà T yêu cầu ông N, bà P phạt cọc 500.000.000 đồng.
[4] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Việc bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện tiền phạt cọc 1.500.000.000 đồng, chỉ yêu cầu phạt tiền cọc 500.000.000 đồng là sự tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật, xét đình chỉ theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là phù hợp.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm
Do hợp đồng vô hiệu, nên bị đơn bà P, ông N chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên, ông, bà thuộc trường hợp người cao tuổi theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH nên được miễn án phí.
Nguyên đơn bà T không được chấp nhận yêu cầu bà P, ông N trả tiền phạt cọc 500.000.000 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.000.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 36.000.000 đồng theo biên lai số 0003156 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Hoàn trả lại số tiền 12.000.000 đồng cho bà T.
[7] Quyền kháng cáo
Các đương sự có quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, khoản 4 Điều 91; Điều 144; Điều 147; Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và Điều 278; của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 328, 385, 123, 407, 408 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thanh T, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất và hợp đồng đặt cọc giữa bà Nguyễn Thanh T, ông Lê Hồng N, bà Nguyễn Thị Minh P vô hiệu, buộc ông Lê Hồng N và bà Nguyễn Thị Minh P liên đới hoàn trả số tiền cọc đã nhận 500.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thanh T ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
[2] Không chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thanh T buộc ông Lê Hồng N và bà Nguyễn Thị Minh P trả số tiền phạt cọc 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
[3] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thanh T đối với ông Lê Hồng N và bà Nguyễn Thị Minh P về việc rút lại yêu cầu thanh toán tiền phạt cọc là 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng.
[4] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm
Ông Lê Hồng N, bà Nguyễn Thị Minh P, được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi.
Bà Nguyễn Thanh T phải chịu án phí 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.000.000 (ba mươi sáu triệu) đồng theo biên lai số 0003156 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Hoàn trả lại số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng cho bà T.
[6] Quyền kháng cáo
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Ngọc Hà |
Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG về tranh chấp hủy hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất
- Số bản án: 36/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hủy hợp đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 12/9/2023 ông Lê Hồng N, bà Nguyễn Thị Minh P, có nhận tiền đặt cọc số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng từ bà Nguyễn Thanh T để đảm bảo việc chuyển nhượng nhà, đất là nhà trọ Ngọc Hiệp T1) gắn liền các thửa đất gồm: - Thửa đất số 09, tờ bản đồ số 07, diện tích 56 m2, tọa lạc xã V, thành phố C, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00236.QSDĐ/Bc ngày 28/3/2002. - Thửa đất số 67, tờ bản đồ số 07, diện tích 56 m2, tọa lạc xã V, thành phố C, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00154.QSDĐ/Bc ngày 17/3/2001. - Thửa đất số 302, tờ bản đồ số 36, diện tích 25,8 m2, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK853544, số vào sổ GCN CH04470 do Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh An Giang cấp ngày 11/01/2013. - Thửa đất số 301, tờ bản đồ số 36, diện tích 46,7 m2, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD771553, số vào sổ GCN H02543fE do Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh An Giang cấp ngày 18/12/2007. Các đương sự có lập Tờ cam kết hợp đồng mua bán đặt cọc nhà trọ “Ngọc Hiệp T1”, giá trị hợp đồng chuyển nhượng 6.400.000.000 đồng, số tiền đặt cọc 500.000.000 đồng; các bên có ký tên thỏa thuận là vào ngày 12/11/2023 ông N, bà P sẽ đến Văn phòng C để giao kết hợp đồng chuyển nhượng, bà T thanh toán đủ số tiền còn lại. Tuy nhiên, ngày 12/11/2023 ông N, bà P không đến như thỏa thuận và bà tìm hiểu thông tin tại Văn phòng đăng ký đất đai được biết các giấy chứng nhận QSDĐ của ông N – bà P có tranh chấp nên không sang tên được. Nay, bà T khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng đặt cọc giữa bà T với ông N, bà P; trả lại tiền đặt cọc 500.000.000 đồng và tiền bồi thường tiền cọc là 2.000.000.000 đồng, tổng số tiền 2.500.000.000 đồng.
