Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31/5/2024

V/v: “Xin ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Trang

Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phước Lộc
  2. Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Chung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc: Ông Lê Minh Dũng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 254/2023/TLST-HNGĐ, ngày 13/10/2023, về: "Xin ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 73/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Ngọc Trân, sinh năm: 2004 (Có đơn xin vắng mặt).
    Địa chỉ: Tổ 6, ấp Suối Đá, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
  2. Bị đơn: Anh Lê Hữu Trọng, sinh năm: 2000 (Vắng mặt)
    Địa chỉ: Tổ 6, ấp Suối Đá, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04/9/2023, bản tự khai ngày 19/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Ngọc Trân trình bày: Chị Trân và anh Lê Hữu Trọng tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2020 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang ngày 22/11/2022, số 110-quyển 01/2022. Sau một thời gian chung sống giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng kéo dài do thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau. Anh Trọng không quan tâm chăm sóc vợ con mà thường hay ghen tuông vô cớ, chửi mắng xúc phạm và đánh đập chị Trân nhiều lần. Kể từ tháng 08/2023 đến nay hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Nay xét, thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc và xét mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Trân yêu cầu được ly hôn với anh Trọng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có với nhau 01 người con chung là Lê Huỳnh Đăng Khoa, sinh ngày 04/3/2022. Khi ly hôn chị Trân yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Việc cấp dưỡng nuôi con do hai vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Vợ chồng không có công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Hữu Trọng được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải được. Toà tiến hành lập biên bản không hoà giải và không công khai chứng cứ được.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đề nghị HĐXX căn cứ Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho chị Trân được ly hôn với anh Trọng.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Lê Huỳnh Đăng Khoa, sinh ngày 04/3/2022 cho chị Trân nuôi dưỡng là phù hợp. Chị Trân không yêu cầu xem xét việc cấp dưỡng nuôi con, đề nghị miễn xét.

Về tài sản chung: Chị Trân xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, đề nghị miễn xét.

Về công nợ chung: Chị Trân xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Huỳnh Ngọc Trân khởi kiện yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung với anh Lê Hữu Trọng nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Bị đơn cư trú tại thành phố Phú Quốc nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Huỳnh Ngọc Trân có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Hữu Trọng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng cả 02 lần đều vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt liên tục không có lý do chính đáng của bị đơn nhằm gây khó khăn cho nguyên đơn, kéo dài việc giải quyết vụ án. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Về nội dung vụ án: Chị Huỳnh Ngọc Trân và anh Lê Hữu Trọng kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang ngày 04/3/2022 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình giải quyết vụ án, chị Huỳnh Ngọc Trân xác định khả năng đoàn tụ không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Trọng. Đồng thời, qua xác minh tại gia đình của vợ chồng chị Trân và anh Trọng thì việc mâu thuẫn vợ chồng là có thật, vợ chồng đã bất hòa với nhau từ nhiều năm nay và hiện tại đã sống ly thân với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn giữa hai người đã thật sự trầm trọng nên căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trân đối với anh Trọng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Trân và anh Trọng có với nhau 01 người con chung là Lê Huỳnh Đăng Khoa, sinh ngày 04/3/2022. Chị Trân có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung đến tuổi trưởng thành. Xét thấy, cháu Khoa hiện nay đang dưới 36 tháng tuổi và đang do chị Trân trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Khoa cho chị Trân tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là thoả đáng.

- Việc cấp dưỡng dưỡng nuôi con: Do chị Huỳnh Ngọc Trân không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không xem xét.

- Về tài sản chung: Chị Huỳnh Ngọc Trân xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về công nợ chung: Chị Huỳnh Ngọc Trân xác định không có công nợ chung nên không xem xét.

[4] Về án phí: Chị Huỳnh Ngọc Trân phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Ngọc Trân được ly hôn với anh Lê Hữu Trọng.
  2. Về con chung: Giao con chung Lê Huỳnh Đăng Khoa, sinh ngày 04/3/2022 cho chị Huỳnh Ngọc Trân tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Không bên nào được ngăn cản quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  1. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị Trân không yêu cầu nên không xem xét.
  2. Về tài sản chung: Chị Trân cho rằng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  3. Về công nợ chung: Chị Trân xác định không có nên không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Huỳnh Ngọc Trân phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Trân đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0009525 ngày 09/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, chị Trân không phải nộp thêm.
    Anh Lê Hữu Trọng không phải nộp án phí sơ thẩm.
  5. Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết tại địa phương nơi cư trú để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND TP. Phú Quốc;
  • - THADS TP. Phú Quốc;
  • - UBND xã Dương Tơ, Phú Quốc, Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger