|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/DS-ST Ngày: 30-9-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Não Thiên Minh Trí và bà Nguyễn Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lê Muộn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 35/2024/QĐST-DS ngày 13/9/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H;
Địa chỉ trụ sở: Số B Bis N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diên theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T – Chức vụ; Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phụng Hoàng N, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H – C.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phụng Hoàng N: Ông Từ Công K, sinh năm, sinh năm 1992, chức vụ: Chuyên viên QLKH cá nhân – Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
Bị đơn: Ông Võ Văn T1, sinh năm 1982, bà Ngô Thị Tuyết m, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện uỷ quyền của nguyên đơn ông Từ Công K trình bày: Ngân hàng TMCP P – CN Ninh Thuận (gọi tắt Ngân hàng H) có cho ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M vay số tiền 900.000.000 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số 9550/23MB/HĐTD/HĐTD ngày 21/6/2023 và khế ước nhận nợ số 9550/HĐTD/KUNN01 ngày 22/6/2023, lãi suất cho vay là 14%/năm, thời hạn vay là 12 tháng. Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Võ Văn T1, bà Nguyễn Thị Tuyết M1 đã thế chấp cho Ngân hàng H quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1176 tờ bản đồ số 09 xã T, Tp P - T, tỉnh Ninh Thuận theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 591218 do Sở Tài nguyện – Môi trường cấp ngày 28/7/2022, cập nhật chỉnh lý ngày 14/6/2023. Đến ngày 15/8/2023 vợ chồng ông T1 đã trả cho Ngân hàng H số tiền nợ gốc là 430.000.000 đồng. Tuy nhiên, tháng 9/2023 đến nay, mặc dù thời hạn trả nợ theo hợp đồng đã hết nhưng ông T1, bà M1 đã nhiều kỳ không thanh toán tiền lãi và gốc cho Ngân hàng theo đúng cam kết hợp đồng vay vốn đã ký. Tính đến ngày 30/9/2024 số tiền nợ của ông T1, bà M1 theo hai hạn mức tín dụng bao gồm:
+ Đối với khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 9550/23MB/HĐTD ngày 21/6/2023, hiện ông T1, bà M1 còn nợ của Ngân hàng H là 544.903.042 đồng, trong đó, bao gồm nợ gốc là 470.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 47.239.845 đồng, lãi quá hạn và lãi phạt là 27.663.197 đồng.
+ Nợ vay thẻ tín dụng là 31.275.995 đồng, trong đó bao gồm, nợ gốc 18.700.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 10.273.611 đồng, lãi quá hạn và lãi phạt châm trả là 2.302.384 đồng.
Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M phải thanh toán toàn bộ số tiền trên cho Ngân hàng H; Buộc ông T1, bà M tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng
Bị đơn ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M: Vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến trình bày.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng; bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi của nguyên đơn Ngân hàng H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng H khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M phải trả số tiền nợ gốc và tiền lãi được ký kết giữa Ngân hàng H1 với ông T1, bà M tại Hợp đồng tín dụng số 9550/23MB/HĐTD ngày 21/6/2023 và nợ vay thẻ tín dụng, đồng thời yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ. Căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
[2]. Về việc vắng mặt của đương sự: Đối với bị đơn ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M đã được Toà án niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa, phiên toà xét xử lần thứ hai những vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hay trở ngại khạch quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tóa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[3]. Về nội dung vụ án: Ngày 21/6/2023 Ngân hàng H với ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M có ký hợp đồng tín dụng số 9550/23MB/HĐTD đến ngày 09/8/2023, Ngân hàng H tiếp tục phát hành thẻ tín dụng cho ông Võ Văn T1 với hạn mức 20.000.000 đồng. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở thoả thuận tự nguyện của các bên, không bị lừa dối. Hình thức và nội dung của hợp đồng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận.
[3.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng H1 đối với ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M: Căn cứ hợp đồng tín dụng số 9550/23MB/HĐTD ngày 21/6/2023 được ký ký giữa vợ chồng ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở thoả thuận tự nguyện của các bên, không bị lừa dối. Hình thức và nội dung của hợp đồng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận. Tuy nhiên, qua trình thực hiện hợp đồng, ông T1, bà M không thực hiện việc thanh toán nợ như đã cam kết nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T1, bà M phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 30/9/2024, bao gồm các khoản vay: Khoản vay thep hợp đồng tín dụng tổng cộng là 544.903.042 đồng, trong đó, bao gồm nợ gốc là 470.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 47.239.845 đồng, lãi quá hạn và lãi phạt là 27.663.197 đồng; Đối với khoản vay thẻ tín dụng là 31.275.995 đồng, trong đó bao gồm, nợ gốc 18.700.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 10.273.611 đồng, lãi quá hạn và lãi phạt chậm trả là 2.302.384 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
[3.2] Đối với yêu cầu của Ngân hàng H về việc yêu cầu vợ chồng ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc kể từ sau ngày 01/10/2024 theo mức lãi suất mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Xét thấy, tại Án lệ số 08/2016/AL của Toà án nhân dân tối cao về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng, nội dụng tại Án lệ quy định “..., khách hàng vay phãi tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng, tổ chức tín dụng khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán, tiền lãi trên nợ gốc trong hạn (nếu có), lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay...”. Như vậy, yêu cầu của Ngân hàng H về việc buộc ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền dư nợ gốc kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2024) là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng tín dụng nên chấp nhận.
[3.3] Xét yêu cầu của Ngân hàng H1 về việc yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9550/23MB/HĐBĐ ngày 21/6/2023. Nhận thấy, quá trình vay vốn tại Ngân hàng H1, ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M có thế chấp tài sản cho Ngân hàng H quyền sử dụng thửa đất số 1176 tờ bản đồ số 09 diện tích 467m². Xét thấy, hợp đồng thế chấp trên được ký kết đúng theo trình tự thủ tục, đúng đối tượng, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với nội dung thoả thuận của các bên để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam về quan điểm giải quyết vụ án.
[4]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.500.000 đồng. Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu của Ngân hàng H được chấp nhận nên ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M phải chịu chi phí xem xét, thẩm định là 1.500.000 đồng. Số tiền này do Ngân hàng đã nộp tạm ứng trước nên buộc ông T1, bà M phải hoàn trả cho Ngân hàng.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 27.047.161 đồng. Ngân hàng H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 317, 318, 320, 323, 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H đối với bị đơn vợ chồng ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M.
1. Buộc vợ chồng ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M phải trả cho Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành phố H số tiền dư nợ tính đến ngày 30/9/2024 bao gồm các khoản nợ sau:
1.1. Khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 9550/23MB/HĐTD ngày 21/6/2023, tổng cộng là 544.903.042 đồng, trong đó, bao gồm nợ gốc là 470.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 47.239.845 đồng, lãi quá hạn và lãi phạt là 27.663.197 đồng.
1.2. Khoản nợ vay Thẻ tín dụng là 31.275.995 đồng, trong đó bao gồm, nợ gốc 18.700.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 10.273.611 đồng, lãi quá hạn và lãi phạt châm trả là 2.302.384 đồng.
Kể từ ngày 01/10/2024 ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà khách hàng vay phải thanh toán cho ngân hàng vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay).
3. Tiếp tục duy trì Hợp đồng quyền sử dụng đất số 9550/23MB/HĐBĐ ngày 21/06/2021 để đảm bảo nghĩa vụ thu hồi nợ cho Ngân hàng H. Trường hợp ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 1176, tờ bản đồ số 09, địa chỉ thửa đất tại thôn C, xã T, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc vợ chồng ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
5. Về án phí: Ông Võ Văn T1, bà Ngô Thị Tuyết M phải chịu 27.047.161đ (hai mươi bảy triệu, không trăm bốn mươi bảy nghìn, một trăm sáu mươi mốt đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TPCP Phát triển Thành phố H 12.046.000 đồng số tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002253 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Khánh Hưng |
Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 36/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 36 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng
