|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-8-2024. V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Phúc.
Bà Nguyễn Thị Bích Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 56/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 14/8/2024, giữa:
* Nguyên đơn: Ông Lê Minh D, sinh năm 1995; Địa chỉ: Khu phố T, phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
* Bị đơn: Bà Mai Thị Huỳnh L, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Số nhà G, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
(Ông D có mặt, bà Huỳnh Lê vắng M).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình xét xử, ông Lê Minh D là nguyên đơn trình bày: Ông và bà Mai Thị Huỳnh Lê Đ tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố H, tỉnh Kiên Giang ngày 24/10/2018. Sau khi cưới vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm không thể hàn gắn lại được. Hai người không còn chung sống với nhau đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Mai Thị Huỳnh Lê .
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Huỳnh A, sinh ngày 30/7/2019, hiện nay con chung đang sống với bà Huỳnh Lê . Khi ly hôn ông yêu cầu để bà Huỳnh Lê tiếp T giữ nuôi con chung, ông có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng, cho đến khi con chung đến tuổi trưởng thành.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn, bà Mai Thị Huỳnh L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt, tại biên bản hòa giải ngày 04/5/2024 bà Huỳnh L trình bày: Bà và ông Lê Minh D được tổ chức lễ cưới có đăng ký kết hôn như ông D trình bày. Vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn. Nay ông D xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn, bà không đồng ý ly hôn vì bà nghĩ mâu thuẩn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung như ông D trình bày. Hiện nay bà đang nuôi con. Nếu phải ly hôn bà yêu cầu tiếp tục nuôi con, bà yêu cầu ông D có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Trong lúc chung sống vợ chồng bà có được cha mẹ chồng tặng cho 01 căn nhà cấp 4, tại khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, do ông Lê Minh D đứng tên. Khi ly hôn bà yêu cầu chia đôi giá trị căn nhà, ông D phải thanh toán cho bà 400.000.000 đồng.
Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Lê Minh D xin ly hôn với bà Mai Thị Huỳnh L, việc tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ thụ lý, giải quyết. Bà Mai Thị Huỳnh L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên cần áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, để xét xử vắng mặt đối với bà Mai Thị Huỳnh Lê.
[2] Ông Lê Minh D và bà Mai Thị Huỳnh Lê Đ tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, thị xã H, tỉnh Kiên Giang ngày 24/10/2018, nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
[3] Qua lời khai trình của ông Lê Minh D, Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa ông Lê Minh D và bà Mai Thị Huỳnh L đã phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được. Ông D xác định do hai người không còn chung sống với nhau đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên ông xin được ly hôn với bà Huỳnh Lê . Bà Huỳnh Lê K trình vợ chồng mâu thuẩn không lớn, bà không đồng ý ly hôn, sau đó đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không hợp tác giải quyết việc hôn nhân của các đương sự. Xét thấy giữa hai đương sự đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng cả hai không có thiện chí hàn gắn lại, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho ông Lê Minh D được ly hôn với bà Mai Thị Huỳnh L, theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về nuôi con chung: Hai đương sự có với nhau 01 người con chung tên Lê Huỳnh A, sinh ngày 30/7/2019, hiện nay con chung đang sống với bà Huỳnh Lê . Khi ly hôn ông D yêu cầu để bà Huỳnh Lê tiếp T giữ nuôi con chung, ông cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng, cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Tại biên bản hòa giải ngày 04/5/2024 bà Huỳnh Lê yêu C được tiếp tục giữ nuôi con,
yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng. Tòa án đã yêu cầu bà Huỳnh Lê cung C1 chứng cứ chứng minh mức thu nhập hiện nay của ông D nhưng bà Huỳnh Lê K1 cung cấp. Ông D cung cấp chứng cứ là các phiếu lương của ông D vào những tháng cuối năm 2023 và những tháng đầu năm 2024 của Công ty TNHH T1, địa chỉ; 378/31 Phạm Hữu L1, P, Nhà B, Thành phố Hồ Chí Minh thì mức thu nhập bình quân của ông D từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/tháng. Do đó cần chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con theo đề xuất của ông D là 4.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 08 năm 2024 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Ông D có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về tài sản chung: Ông D khai trình không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên hòa giải ngày 04/5/2024 bà Huỳnh Lê K trình lúc chung sống vợ chồng bà có được cha mẹ chồng tặng cho 01 căn nhà cấp 4, tại khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, do ông Lê Minh D đứng tên. Khi ly hôn bà yêu cầu chia đôi giá trị căn nhà, ông D phải thanh toán cho bà 400.000.000 đồng. Tòa án đã yêu cầu bà Huỳnh Lê P có đơn yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn, nhưng bà Huỳnh Lê K1 có đơn yêu cầu và không hợp tác giải quyết vụ án, do đó cần tách yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn của bà Huỳnh Lê R giải quyết bằng một vụ kiện khác khi đương sự có đơn yêu cầu.
[6] Về nợ chung: Hai đương sự khai trình không có nợ chung, nên không xem xét.
[7] Về án phí: Ông Lê Minh D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (phần cấp dưỡng nuôi con)
theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bà Mai Thị Huỳnh Lê K1 phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ông Lê Minh D được ly hôn với bà Mai Thị Huỳnh Lê.
- Về nuôi con chung: Khi ly hôn, bà Mai Thị Huỳnh Lê Đ tiếp tục giữ con chung tên Lê Huỳnh A, sinh ngày 30/7/2019. Ông Lê Minh D có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 8 năm 2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi; Ông D có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Ông Lê Minh D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Cho chuyển số tiền tạm ứng án phí ông D đã nộp là 300.000 đồng sang tiền án phí phải thi hành, theo biên lai thu số 0009426 ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ. Ông Lê Minh D còn phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Văn Thái |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Minh D "Ly hôn" Mai Thị Huỳnh L
