|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 8 - 2024 V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hướng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giáp.
Ông Nguyễn Thành Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Cưng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 16/02/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị D trình bày:
Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Văn N tự nguyện tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 29/01/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn chị D và anh N chung sống hạnh phúc, đến tháng 3 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị D và anh N không sống chung từ tháng 02 năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian chung sống chị D và anh N có 03 người con chung tên Nguyễn Thị Tố Q, sinh ngày 21/12/2007 và Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 13/8/2012, Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 21/9/2017. Hiện nay Tố Q, Kim Y và Kim P đang sống chung với chị D. Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống chị D và anh N có tài sản chung, nhưng anh chị tự thỏa thuận. Về nợ chung: Trong thời gian chung sống chị D và anh N không có nợ chung.
Nay chị D yêu cầu như sau: Về hôn nhân: Chị D yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn N. Về con chung: Chị D yêu cầu được nuôi 03 con chung tên Nguyễn Thị Tố Q, sinh ngày 21/12/2007, Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 13/8/2012 và Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 21/9/2017 đến khi Tố Q, Kim Y và Kim P thành niên, chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Chị D và anh N đã tự thỏa thuận, nên chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày: Theo nội dung khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị D, anh N trình bày ý kiến: Về hôn nhân: Anh N đồng ý ly hôn với chị Trần Thị D. Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Thị Tố Q, sinh ngày 21/12/2007, Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 13/8/2012 và Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 21/9/2017. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Tố Q, sinh ngày 21/12/2007, Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 13/8/2012 và Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 21/9/2017 cho chị D nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh N không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng, người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 16/02/2024, chị Trần Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn N cư trú tại ấp Sáu T, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Về hôn nhân nhân: Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị D và anh N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của chị D và anh N là hợp pháp. Sau khi kết hôn chị D và anh N chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến nên cuộc sống không còn hạnh phúc và vợ chồng không còn sống chung từ tháng 02 năm 2024. Từ khi không sống chung đến nay chị D không có gặp anh N để bàn bạc hàn gắn lại tình cảm.
Xét thấy, chị D không chủ động gặp anh N để hàn gắn tình cảm, hiện nay hôn nhân của chị D và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chị D và anh N không còn khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chị D yêu cầu được ly hôn với anh N là có cơ sở và phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống chị Trần Thị D và anh Nguyễn Văn N có 03 con chung tên Nguyễn Thị Tố Q, sinh ngày 21/12/2007, Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 13/8/2012 và Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 21/9/2017. Hiện nay Tố Q, Kim Y và Kim P đang sống với chị D.
Xét ý kiến của chị Trần Thị D đang nuôi con chung tên Nguyễn Thị Tố Q, sinh ngày 21/12/2007 và Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 13/8/2012, Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 21/9/2017. Qua ý kiến trình bày nguyện vọng của con chung Nguyễn Thị Tố Q, Nguyễn Thị Kim Y và Nguyễn Thị Kim P có nguyện vọng sống cùng với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao Nguyễn Thị Tố Q, sinh ngày 21/12/2007 và Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 13/8/2012, Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 21/9/2017 cho chị Trần Thị D nuôi dưỡng đến khi thành niên.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Văn N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án hôn nhân và gia đình nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy chị Trần Thị D chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình. Anh Nguyễn Văn N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Tố Q, sinh ngày 21/12/2007, Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 13/8/2012 và Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 21/9/2017 cho chị Trần Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi Nguyễn Thị Tố Q, Nguyễn Thị Kim Y và Nguyễn Thị Kim P thành niên. Anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Thị Tố Q, Nguyễn Thị Kim Y và Nguyễn Thị Kim P cho anh N, không ai được cản trở. Anh Nguyễn Văn N không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Nguyễn Thị Tố Q, Nguyễn Thị Kim Y và Nguyễn Thị Kim P của chị Trần Thị D.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Văn N, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004358 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng như vậy chị Trần Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; anh Nguyễn Văn N không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Văn N được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Chí Hướng |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
