Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN BIÊN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày 30- 8- 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoài.

Bà Trần Thị Mộng Lành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Hoàng T, sinh ngày 26/11/1995; Tại thành phố M, tỉnh Tiền Giang;

Nơi cư trú: Số D L, phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang;

Nơi tạm trú: Ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trần S, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1963;

Có vợ tên Ngô Thị Huyền T1, sinh năm 1997; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2021;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 02/10/2017 bị Công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng có mang theo vũ khí thô sơ” theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11733/QĐ-XPHC, đã nộp phạt xong ngày 03/10/2027;

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 06/02/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Lê Minh T2, sinh ngày 29/6/2006. Có mặt

* Người đại diện hợp pháp bị hại Lê Minh T2: Bà Nguyễn Thị Mỹ T3, sinh năm 1984. Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Phước H, sinh năm 1995. Có đơn xin xét xử vắng mặt

* Người làm chứng: Ông Trần Manh E, sinh năm 1981. Vắng mặt

Cùng trú tại: Ấp G Chợ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 21/11/2023 tại khu vực mua bán gà, vịt Chợ T5 thuộc ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang trong khi mua bán xảy ra mâu thuẫn giữa chị Q và chị Q1 (chưa rõ nhân thân, lý lịch) về việc mua bán vịt. Tại thời điểm này, bà Nguyễn Thị Mỹ T3 đi chợ chứng kiến và có lời nói bênh vực chị Q1 nên xảy ra cự cải với chị Q. Lúc này, có Trần Hoàng T, Nguyễn Phước H, Trần Duy L và 03 đối tượng tên K, P, N (chưa rõ nhân thân, lý lịch) đi ngang qua thấy vậy cũng đứng lại xem. Được một lúc, đối tượng K bênh vực chị Q nên xảy ra cự cải, đe dọa đòi đánh bà T3 nên bà T3 gọi điện thoại cho con trai là Lê Minh T2 đang ở nhà thuộc ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang biết. Nghe vậy Nguyễn Minh T4 rủ Dương Chí H1 đi cùng đến chỗ bà T3. Do nghe có nhóm đối tượng đe dọa đòi đánh mẹ T4 nên T4 mang theo hung khí là 01 (Một) cây dao dài 46,5cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán bằng gỗ quấn băng keo màu đen, còn Dương Chí H1 nghe vậy cũng đi ra sau nhà T4 lấy thêm 01 (Một) cây dao dài 60,5cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán bằng gỗ quấn băng keo màu đen nhằm mục đích nếu có đánh nhau thì sử dụng làm hung khí. Sau đó, Dương Chí H1 điều khiển xe mô tô SIRIUS màu trắng, biển kiểm soát 68B1-32557 chở T4 ngồi sau (T4 giấu 02 cây dao ngang qua hai đùi của mình) chạy đến chỗ bàThiêu. Khi đến nơi T4 thấy Phước H, L là người quen của gia đình, T4 dừng xe lại vẫn ngồi trên xe và hỏi Phước H “có chuyện gì anh H”; Trần Hoàng T đứng gần bên nhìn thấy T4 để 02 (Hai) cây dao trên đùi của T4 liền xông lại dựt lấy cây dao dài 46,5cm của T4 đang cầm trên tay gây thương tích ngón I (ngón cái) bàn tay trái của T4. Thấy vậy K cũng xông đến giựt cây dao dài 60,5cm còn lại của T4 đang cầm chém từ trái sang phải trúng vào bắp tay phải của Chí H1 làm trầy xước nhẹ. Sau khi bị chém T4 và H1 cùng nhảy khỏi xe và bỏ chạy về hướng Cầu G Chợ, T tiếp tục cầm dao rượt đuổi theo khoảng 2m đến ngay phía sau lưng của T4 và T4 quay người làm đối diện với T thì T chém T4 trúng vào cánh tay trái, vùng bụng và bàn chân trái. Cùng thời điểm đó, K cũng cầm dao rượt đuổi chém T4 nhưng được Phước H, L và mọi người can ngăn. Sau đó, Lê Minh T2 được gia đình đưa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh K điều trị thương tích, đến ngày 24/11/2023 thì xuất viện. Ngay sau khi xảy ra sự việc, gia đình của T2 đã trình báo cơ quan Công an và được tiếp nhận để điều tra theo quy định. Đến ngày 02/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Hoàng T về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Đến ngày 06/02/2024, Trần Hoàng T bị bắt tạm giam cho đến nay.

* Vật chứng của vụ án gồm: 01 (Một) cây dao tự chế dài 46,5cm; phần cán được làm bằng gỗ dài 14,5cm bên ngoài có quấn băng keo màu đen; phần lưỡi dao dài 32cm được làm bằng kim loại màu trắng có nhiều chỗ rỉ sét, bản dao chỗ rộng nhất 6cm lưỡi sắc, mũi nhọn; 01 (Một) con dao tự chế dài 60,5cm phần cán được làm bằng gỗ màu nâu dài 19cm, phần lưỡi được làm bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét dài 41,5cm, bản lưỡi dao rộng nhất 5cm cạnh lưỡi sắc, mũi nhọn.

* Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 972/KLVGTT-PY ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận đối với thương tích của Lê Minh T2 như sau:

Các kết quả chính:

Sẹo phần mền vùng bụng, cánh tay phải, ngón I tay trái. Vết thương bàn chân trái, đứt gân duỗi ngón V bàn chân trái, gẫy (đứt) xương bàn V, đã được điều trị. Hiện xương chưa liền.

Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Minh T2 tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Vật gây thương tích: vật có cạnh sắc.

* Tại Bản kết luận giám định số 972/LKVGTT-PY ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận giám định trên như sau:

Các kết quả chính:

Mẫu vật (cây dao đánh dấu 1 và 2) gửi giám định đều có cạnh lưỡi dao sắc.

Thương tích ở vùng bụng, cánh tay phải, ngón I tay trái và bàn chân trái của Lê Minh T2 do vật có cạnh sắc gây nên.

Kết luận:

Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định: Mẫu vật (cây dao đánh dấy 1 và 2) gửi giám định đều có thể gây ra được thương tích ở vùng bụng, cánh tay phải, ngón I tay trái và bàn chân trái của Lê Minh T2.

* Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSHAB ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Hoàng T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Trần Hoàng T từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) cây dao tự chế dài 46,5cm; phần cán được làm bằng gỗ dài 14,5cm bên ngoài có quấn băng keo màu đen; phần lưỡi dao dài 32cm được làm bằng kim loại màu trắng có nhiều chỗ rỉ sét, bản dao chỗ rộng nhất 6cm lưỡi sắc, mũi nhọn và 01 (Một) con dao tự chế dài 60,5cm phần cán được làm bằng gỗ màu nâu dài 19cm, phần lưỡi được làm bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét dài 41,5cm, bản lưỡi dao rộng nhất 5cm cạnh lưỡi sắc, mũi nhọn.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Trần Hoàng T đã bồi thường cho bị hại Lê Minh T2 số tiền 15.000.000 đồng, bị hại và người giám hộ của bị hại không yêu cầu gì thêm nên miễn xét. Bị hại và đại diện hợp pháp bị hại ý kiến: Về trách nhiệm hình sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giạm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại, người giám hộ của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 08 giờ ngày 21/11/2023 Lê Minh T2 nhận được cuộc điện thoại của bà Nguyễn Thị Mỹ T3 (mẹ ruột của T2) đang bị một nhóm thanh niên đe dọa đánh. Nên T2 rủ H điều khiển xe mô tô và mang theo 02 cây dao tự chế lưỡi bằng kim loại chạy đến ấp G thuộc xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang nơi bà T3 đang đứng. Khi đến nơi thì Trần Hoàng T thấy T2 ngồi trên xe phía sau có cầm theo hung khí nên T đi lại giật 01 cây dao chém Lê Minh T2 trúng vào vùng bụng, cánh tay phải, ngón I tay trái và bàn chân trái gây thương tích. Tại bản kết luận thương tích kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Minh T2 do thương tích gây nên là 11% (Mười một phần trăm). Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo Trần Hoàng T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã giật cây dao do bị hại đang cầm để gây thương tích cho bị hại, bị cáo nhận thức được việc dùng hung khí nguy hiểm là dao tự chế tác động vào cơ thể của bị hại sẽ gây thương tích nhưng do có sự hiểu nhầm rằng bị hại cầm dao lại để tấn công bị cáo nên bị cáo đã giật doa của bị hại tấn công bị hại trước gây thương tích cho bị hại, hậu quả bị hại bị thiệt hại sức khỏe 11%. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến sức khỏe bị hại và làm mất an ninh, trật tự ở địa phương. Do đó, cần xét xử các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, phía bị hại cũng có một phần lỗi trong vụ việc cụ thể bị hại đã chủ động mang theo dao đến chỗ đang cự cải để giải quyết mâu thuẫn nên Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội để tuyên xử mức án phù hợp.

Đối với đối tượng K có hành vi với vai trò đồng phạm trong vụ án trên. Tuy nhiên qua xác minh chưa xác định được nhân thân lai lịch của K nên chưa làm việc được với đối tượng K nên chưa có cơ sở để xử lý. Đề nghị cơ quan chức năng tiếp tục điều tra xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với các đối tượng H và T2 vi phạm về lĩnh vực hành chính an ninh trật tự, an toàn xã hội. Cơ quan chức năng đã chuyển hồ sơ vi phạm đến Công an huyện A và đã ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

[3] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong cho bị hại với số tiền 15.000.000 đồng; người bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị; bị hại có lỗi một phần. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, phạm tội lần đầu, được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 và 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, sau khi sự việc xảy ra giữa bị cáo và người bị hại đã hòa giải được sự hiểu nhầm, không còn mâu thuẫn với nhau. Bị hại và gia đình bị hại đã tha lỗi cho bị cáo, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong theo yêu cầu của bị hại; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình, vợ phải ở nhà chăm sóc 02 con nhỏ nên Hội xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn là phù hợp với hành vi của bị cáo và đã đủ tính răn đe. Bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 06/02/2024 đến ngày xét xử đã bị tạm giam được 06 tháng 25 ngày, Hội đồng xét xử thống nhất xử hình phạt tù bằng thời hạn đã bị tạm giam, áp dụng khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

[4] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây dao tự chế dài 46,5cm; phần cán được làm bằng gỗ dài 14,5cm bên ngoài có quấn băng keo màu đen; phần lưỡi dao dài 32cm được làm bằng kim loại màu trắng có nhiều chỗ rỉ sét, bản dao chỗ rộng nhất 6cm lưỡi sắc, mũi nhọn và 01 (Một) con dao tự chế dài 60,5cm phần cán được làm bằng gỗ màu nâu dài 19cm, phần lưỡi được làm bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét dài 41,5cm, bản lưỡi dao rộng nhất 5cm cạnh lưỡi sắc, mũi nhọn.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng, bị hại và người giám hộ của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên miễn xét.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Hoàng T phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng T 06 (Sáu) tháng 25 (Hai mươi lăm) ngày tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 06/02/2024. Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

2. Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây dao tự chế dài 46,5cm; phần cán được làm bằng gỗ dài 14,5cm bên ngoài có quấn băng keo màu đen; phần lưỡi dao dài 32cm được làm bằng kim loại màu trắng có nhiều chỗ rỉ sét, bản dao chỗ rộng nhất 6cm lưỡi sắc, mũi nhọn và 01 (Một) con dao tự chế dài 60,5cm phần cán được làm bằng gỗ màu nâu dài 19cm, phần lưỡi được làm bằng kim loại màu trắng đã rỉ sét dài 41,5cm, bản lưỡi dao rộng nhất 5cm cạnh lưỡi sắc, mũi nhọn.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 32/QĐ-VKSAB ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang).

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Hoàng T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại, người giám hộ của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện An Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - THA Dân sự, Hình sự;
  • - NTG; CA huyện An Biên;
  • - Người TGTT;
  • -Lưu hồ sơ, văn phòng (Dương).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Trần Mộng Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger