Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30/7/2024.

Về việc: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hải Yến.
Ông Dương Văn Xuyên.
Thư ký toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Tô Ngọc Lâm - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Tạ Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 210/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QÐST-HNGĐ ngày 02/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 11/2024/QĐHPT–DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T - Sinh ngày 02/9/1991.
    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Xóm Q, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Bị đơn: Ông Đào Anh D - Sinh ngày 22/9/1984. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Nhà số C đường R, thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội.

Có mặt: Bà T.
Vắng mặt: Ông D.

NHẬN THẤY

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 27/3/2024 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà kết hôn với ông Đào Anh D trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện S, thành phố Hà Nội ngày 31/7/2019. Sau khi kết hôn, bà và ông D chung sống cùng nhau tại nhà riêng của ông D ở thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông bà bất đồng quan điểm về kinh tế, ông D ghen tuông vô cớ, nhiều lần ông D đánh đuổi bà ra khỏi nhà. Bà đã phải bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xóm Q, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để sinh sống từ ngày 01/3/2024 đến nay. Trước khi kết hôn với bà, ông D đã một lần ly hôn với người vợ trước, sau khi ly hôn vợ cũ ông D là người trực tiếp nuôi 03 con riêng, ăn ở cùng bà và ông D. Đến nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu được ly hôn ông Đào Anh D để ổn định cuộc sống riêng.

- Về con chung: Bà và ông D sinh được 01 con chung là Đào Ánh H, sinh ngày 29/6/2019. Hiện cháu H đang ở với ông D. Ngoài ra, ông D sau khi ly hôn với vợ trước cũng đang phải nuôi 03 con riêng là: Đào Anh V, Đào Thị Hồng NĐào Anh T1. Vì vậy, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đào Ánh H.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà tự nguyện không yêu cầu giải quyết.

Hiện bà đang làm công nhân tại Công ty TNHH W ở Khu công nghiệp Y, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, thu nhập bình quân khoảng 10.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn, ông Đào Anh D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông D nhất trí với lời khai của bà Nguyễn Thị T về thời gian, điều kiện kết hôn, địa điểm chung sống của vợ chồng. Vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2023 mới xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm về kinh tế, vợ chồng xảy ra cãi vã, bà T bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở T. Sau đó, ông đã đến xin lỗi và đón bà T về. Vợ chồng ông bà tiếp tục chung sống đến khoảng tháng 3/2024 thì lại xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về kinh tế. Ông bà đã trao đổi với nhau qua tin nhắn điện thoại nhưng không tìm được tiếng nói chung, bà T về nhà bố mẹ đẻ từ đó cho đến nay. Ông đến đón nhưng bà T không đồng ý và chặn mọi liên lạc với ông. Nay bà T xin ly hôn, ông xác định ông không có lỗi gì nên muốn kéo dài thời gian để bà T suy nghĩ lại. Ông đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ.

- Về con chung: Ông và bà T sinh được 01 con chung là Đào Ánh H, sinh ngày 29/6/2019. Hiện cháu H đang ở với ông. Ly hôn, ông có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu H. Trước đây, ông làm nghề lái xe dịch vụ, thu nhập khoảng 15.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, từ khi bà T bỏ đi, ông phải nhờ nhà trông con nên không làm được gì. Hiện ông đang ở trên đất do bố mẹ tặng riêng cho ông.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

- Bà Nguyễn Thị T giữ nguyên quan điểm, yêu cầu được ly hôn và có nguyện vọng trực tiếp được nuôi con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Bà T không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của người tham gia tố tụng: Kể từ ngày nhận đơn, thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

  • Nguyễn Thị T được ly hôn ông Đào Anh D.
  • Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Đào Anh D sinh được 01 con chung là: Đào Ánh H, sinh ngày 29/6/2019.
  • Giao cho bà T trực tiếp nuôi con chung, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông D.
  • Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T, ông D không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về thẩm quyền: Bị đơn là ông Đào Anh D có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội.

{2} Về thủ tục tố tụng: Ông Đào Anh D vắng mặt tất cả các giai đoạn tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông D theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và dành quyền kháng cáo cho ông D là phù hợp pháp luật.

{3} Về nội dung:

{3.1} Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Đào Anh D kết hôn với nhau ngày 31/7/2019 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn, bà T và ông D chung sống cùng nhau tại nhà riêng của ông D ở thôn P, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội. . Trước khi kết hôn với bà T, ông D đã một lần ly hôn với người vợ trước, sau khi ly hôn ông D là người trực tiếp nuôi 03 con riêng. Ông, bà chung sống đến đầu năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm về kinh tế, ông D ghen tuông vô cớ, nhiều lần ông D đánh đuổi bà T ra khỏi nhà. Bà T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xóm Q, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để sinh sống từ ngày 01/3/2024 đến nay. Nay bà T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu được ly hôn. Ông D không đồng ý ly hôn, nhưng lại không có mặt tại Toà án để tham gia hoà giải.

Như vậy, hôn nhân của hai ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà T xin ly hôn là có căn cứ nên được Tòa án chấp nhận.

{3.2} Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Đào Anh D sinh được 01 con chung là: Đào Ánh H, sinh ngày 29/6/2019. Hiện cháu H đang ở với ông D.

Bà T và ông D đều yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: Nguyện vọng được nuôi con của bà T và ông D đều là chính đáng, nhưng việc giao con cho bố hay mẹ nuôi thì cần đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển của con. Cháu Đào Ánh H hiện còn nhỏ, là con gái nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Hơn nữa, hiện ông D đang phải trực tiếp nuôi 03 con riêng, không có thu nhập ổn định. Bà T đang làm công nhân tại Công ty TNHH W ở Khu công nghiệp Y, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, thu nhập bình quân khoảng 10.000.000 đồng/tháng và có nhà ở ổn định cùng bố mẹ đẻ. Vì vậy, giao cho bà T trực tiếp nuôi con chung là phù hợp pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên không yêu cầu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không đặt ra để xem xét.

{3.3} Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T, ông D không yêu cầu Toà án giải quyết.

{4} Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật để sung vào ngân sách Nhà nước.

{5} Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

  • Các Điều 55, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • Khoản 1 Điều 28; Điều 271, 273, 277 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Đào Anh D về việc ly hôn.
  2. Nguyễn Thị T được ly hôn ông Đào Anh D.
  3. Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Đào Anh D sinh được 01 con chung là: Đào Ánh H, sinh ngày 29/6/2019.
  4. Giao cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi con chung Đào Ánh H, sinh ngày 29/6/2019. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Đào Anh D cho đến khi cháu H thành niên hoặc khi có quyết định khác của Toà án.
  5. Ông Đào Anh D có quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
  6. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị T và ông Đào Anh D không yêu cầu Toà án giải quyết.
  7. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022438 ngày 27/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đào Anh D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội.
  • - VKSND T.P Hà Nội.
  • - VKSND huyện Sóc Sơn.
  • - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - UBND xã Bắc Sơn.
  • (Giấy CNKH số: 82 ngày 31/7/2019).
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger