|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 36/2024/HNGĐ - ST Ngày: 29-5-2024 V/v Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Ngô Thị Luân
- Bà Thạch Thị Lan Nhung
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trọng Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lịch - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 97/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1979. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn N xây dựng gia đình với nhau năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông N có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không chăm lo cho gia đình, không quan tâm đến vợ con, bà M cũng đã khuyên ông N nhưng không được. Do không thể tiếp tục chung sống nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2017. Nay bà Minh xác đ không còn tình cảm với ông N nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn N. Về con chung bà Minh xác đ vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thiên N1, sinh ngày 27/3/2012 và Nguyễn Thiên A, sinh ngày 25/4/2017. Khi ly hôn bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con chung, không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung bà Minh xác đ không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, bà M không trình bày gì thêm.
Bị đơn ông Nguyễn Văn N có đơn trình bày ý kiến: Ông và bà M xây dựng gia đình với nhau vào năm 2011 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Qua quá trình chung sống đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không cùng tiếng nói chung. Do không tìm được biện pháp cải thiện quan hệ tình cảm vợ chồng nên đã sống ly thân từ cuối năm 2017 đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau do tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, nay bà M yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết ly hôn thì ông đồng ý vì có quay về thì ông bà cũng không tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Ông N đồng ý việc Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết việc ly hôn của ông bà. Về con chung ông N xác định vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thiên N1, sinh ngày 27/3/2012 và Nguyễn Thiên A, sinh ngày 25/4/2017. Khi ly hôn ông N đồng ý giao cả hai con cho bà M có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung ông N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, ông N không trình bày gì thêm.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông N vắng mặt nên không hòa giải được. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt nhưng ông N không có ý kiến gì nên Tòa án triển khai đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, cụ thể: Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên tòa sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà M, xử cho bà M được ly hôn với ông N. Về con chung đề nghị giao cả hai con cho bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con, ông N không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: đề nghị buộc bà M phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn cùng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn N đăng ký kết hôn vào ngày 15 tháng 6 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân giữa bà M và ông N được xác lập trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân giữa bà M và ông N là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Quá trình chung sống bà M cho rằng không hạnh phúc nên bà M làm đơn ly hôn. Tại đơn trình bày ý kiến ông N cũng xác định do vợ chồng không có tiếng nói chung đã ly thân từ năm 2017 nên bà M làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông N thì ông N đồng ý. Xét thấy, nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà M và ông N là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và do vợ chồng không tin tưởng nhau trong quan hệ tình cảm nên hay cãi nhau nhưng khi xảy ra mâu thuẫn thì các đương sự lại không tìm cách hàn gắn tình cảm khiến cho cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Các đương sự đã tự sống ly thân từ năm 2017, trong thời gian ly thân các đương sự không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau do tình cảm không còn. Vì vậy, nếu cứ kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của bà M, xử cho bà M và ông N được ly hôn.
[2.2] Về con chung: Bà M và ông N có 02 con chung là Nguyễn Thiên N1, sinh ngày 27/3/2012 và Nguyễn Thiên A, sinh ngày 25/4/2017. Khi ly hôn bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con còn ông N cũng đồng ý giao cả hai con cho bà M có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân thì cả hai con vẫn sống cùng bà M, các cháu được đi học, phát triển bình thường. Hơn nữa, cả hai cháu hiện nay đều đã trên 07 tuổi và cùng có nguyện vọng được sống cùng mẹ khi bố mẹ ly hôn. Vì vậy, giao cả hai con cho bà M có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: bà M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung các đương sự cùng xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung trong vụ án này. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu khởi kiện.
[3] Về án phí: Bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M, xử cho bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn N được ly hôn.
- Về con chung: Giao cả hai con là Nguyễn Thiên N1, sinh ngày 27/3/2012 và Nguyễn Thiên A, sinh ngày 25/4/2017 cho bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Ông Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0004590 ngày 03/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, bà M đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa |
|
|
Ngô Thị Luân |
Thạch Thị Lan Nhung |
Nguyễn Thị Như Quỳnh |
6
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như Quỳnh |
Bản án số 36/2024/HNGĐ - ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án ly hôn giữa bà Nguyễn Thị M với ông nguyễn Văn Ng
