TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 36/2023/HS-ST Ngày: 27 - 12 - 2023 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Thu;
2. Ông Lê Dũng Tấn.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn A, sinh ngày 04/5/1995, tại: Xã Th V, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn A, xã Th V, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966; Vợ: Chưa; Con: Chưa.
Tiền án: không.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/10/2023 đến 17/10/2023 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Anh Ngô Đức N, sinh năm 1997; (Vắng mặt).
Địa chỉ; Thôn 10, xã X, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 11/10/2023 Nguyễn Văn A làm việc tại tỉnh Hưng Yên xin được số điện thoại của người bán ma tuý từ một người làm thuê với An. Khoảng 8 giờ cùng ngày, An ra bắt xe ôm về Về Hà Nội, do điện thoại của An hết tiền nên An mượn điện thoại di động của người chở xe ôm gọi vào số điện thoại vừa xin được của một người không biết tên, tuổi, địa chỉ hỏi mua 800.000₫ ma tuý, người đó đồng ý và hẹn gặp nhau tại Cầu Long Biên, Hà Nội. An thuê xe ôm chở An đến chỗ hẹn, đến đầu cầu Long Biên, An tiếp tục mượn điện thoại của người xe ôm gọi lại cho người đàn ông bán ma tuý, chờ khoảng 10 phút sau có một đàn ông mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang đi xe máy lại chỗ An đang đứng, An đưa cho người này 800.000đ, người này đưa cho An 04 gói ma tuý rồi quay xe đi ngay. Mua được ma tuý, An cất giấu vào trong mũ lưỡi trai đội đầu, sau đó An bắt xe ôm khác đi đến Bến xe Giáp Bát rồi bắt xe khách Tùng Lâm về Thiệu Hoá. Trên đường đi An gọi Mesenger cho bạn là Ngô Đức N, sinh năm 1997 ở thôn Thành Thiện, xã X, huyện Thiệu Hoá nhờ đón về nhà. Khi xe khách Tùng Lâm đi đến đầu Cầu thiệu Hoá An xuống xe, chờ khoảng 10 phút thì N đến, khi vừa ngồi lên xe máy của N thì A bị bắt quả tang cùng tang vật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa An khai nhận số tiền 800.000₫ An dùng mua ma tuý do lao động mà có (BL01-02; 60-68). Đối với Ngô Đức N là người được Nguyễn Văn A gọi điện đến đón An và chứng kiến việc A bị bắt quả tang khi đang tàng trữ ma túy. Quá trình điều tra Nguyễn Văn A và Ngô Đức N đều khai bị cáo An không nói cho anh Ngô Đức N biết việc An tàng trữ ma túy, anh Ngô Đức N không biết gì.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thiệu Hóa đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn A, không phát hiện thu giữ được đồ vật và tài liệu gì liên quan.
Tại bản kết luận số 3741/KL-KTHS ngày 16/10/202 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất rắn màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,418g (không phảy bốn mười tám gam), loại Heroin (BL13).
Quá trình điều tra Nguyễn Văn A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS-TH ngày 20/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Thiệu Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đề nghị xử phạt Nguyễn Văn A từ 13 đến 18 tháng tù;
Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M và 0,373 gam chất rắn màu trắng dạng cục vụn của phong bì M là các
mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả đựng niêm phong trong một phong bì niêm phong mẫu vật do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Thiều Trần Hoà và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá; Tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai đội đầu màu đen đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7 màu trắng, số máy MNCF2J/A, số seri DNQSK7NKHG7Y gắn 01 sim, số thuê bao 0963.114.396 đã qua sử dụng; là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố, không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh hình phạt và các vấn đề khác. Khi nói lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2]. Về hành vi, chứng cứ xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ được, bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 11/10/2023 tại khu vực đầu Cầu Thiệu Hoá thuộc Tiểu khu 4, Thị trấn Thiệu Hoá, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Văn A đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,418g (Không phẩy bốn một tám gam) loại: Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn xâm hại trực tiếp đến sức khỏe, giống nòi, nhân cách, đạo đức, lối sống con người, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần phải xử lý
nghiêm, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời cùng thể hiện tính răn đe và phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo tốt trở về với gia đình, xã hội để trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định, là đối tượng nghiện ma túy, phạm tội không có tính vụ lợi; Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ chất ma túy còn lại là mẫu vật sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7 màu trắng đã qua sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận đây là điện thoại của bị cáo, bị cáo không dùng điện thoại vào mục đích phạm tội. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Đối với chiếc mũ lưỡi trai đội đầu đã qua sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại, chiếc mũ đã cũ giá trị sử dụng không còn, nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[7]. Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại cầu Long Biên, Hà Nội, quá trình điều tra Cơ quan điều tra và tại phiên tòa không xác định được danh tính, địa chỉ của người này nên không có cơ sở điều tra mở rộng vụ án.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Văn A 13 (Mười ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ (Ngày 11/10/2023).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là Heroine còn lại sau khi trích giám định, tất cả được đựng trong phong do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Thiều Trần Hòa và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa; Tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7 màu trắng đã qua sử dụng số máy MNCF2J/A, số seri DNQSK7NKHG7Y có 01 sim (Đặc điểm của các vật chứng này theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thiệu Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thiệu Hóa ngày 20/11/2023).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Thu |
Bản án số 36/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 36/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Văn A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
