|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HS - ST
Ngày: 26/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG - TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nam
Bà Nguyễn Thị Hoa
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức L
- - Sinh ngày 24 tháng 11 năm 1988; Tại: Thành phố H, tỉnh Hòa Bình;
- - Nơi cư trú: Tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình;
- - Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam.
- - Con ông: Nguyễn Văn L1, sinh năm: 1962
- - Con bà: Vũ Thị H, sinh năm: 1962
- - Vợ là: Đinh Thị H1, sinh năm 1992 (đã ly hôn)
- - Bị cáo có một con sinh năm 2015.
- - Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- - Ngày 01/01/2014 bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
- - Ngày 05/8/2016 bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền.
- - Ngày 09/12/2019 bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức cảnh cáo.
- - Ngày 19/10/2020 bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/6/2024 đến nay; (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 24/6/2024, Nguyễn Đức L, sinh năm: 1988, trú tại: Tổ E, phường T, thành phố H là đối tượng sử dụng chất ma tuý từ năm 2020 đã nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên đã đi bộ từ nhà ra đường Q, lên khu vực ngã ba chân dốc C thuộc phường T, TP H rồi vào một ngõ nhỏ và gặp người đàn ông mặc áo mưa màu xanh, cao khoảng 1,65m, đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm, không nhìn rõ mặt. L hỏi người đàn ông “Anh còn hàng (ý là ma túy) không? để cho em 200.000”, người đàn ông bảo “có”. L đưa tiền cho người đàn ông và người này đưa lại cho L 01 gói giấy nhỏ màu trắng, L không mở ra để kiểm tra nhưng biết bên trong có ma túy nên đã đút vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ ra bắt xe buýt hướng về huyện C. Khi đến khu B, thị trấn C, huyện C, L xuống xe và đi bộ tìm chỗ vắng để sử dụng ma túy. Khi đang đi bộ trên đường thì bị Tổ công tác - Công an huyện C yêu cầu kiểm tra và phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của L có 01 gói giấy nhỏ màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục. L khai nhận đó là ma tuý. Sau đó, tổ công tác đã đưa Nguyễn Đức L cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an thị trấn C lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ:
- - 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục.
Tại Bản kết luận giám định số 331/KL- KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong, một mặt có ghi “Phong bì niêm phong tang vật là gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục thu giữ của Nguyễn Đức L, SN 1988, trú tại tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình ngày 24/6/2024” gửi giám định có khối lượng là 0,25gam (không phẩy hai mươi lăm gam) ma túy, loại Heroine (H).
Bản cáo trạng số: 25/CT -VKSCP ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình đã truy tố Nguyễn Đức L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L mức án từ 14 đến 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,18 gam mẫu ma tuý, loại heroin cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện VKS, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, đại diện VKS huyện Cao Phong không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và được sử dụng làm chứng cứ để HĐXX xem xét.
[2] Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do nghiện ma túy nên ngày 24/6/2024 bị cáo Nguyễn Đức L đã có hành vi tàng trữ 0,25gam (không phẩy hai mươi lăm gam) ma túy, loại Heroine (H), mục đích để sử dụng cho bản thân.
Như vậy hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy loại Heroine (H) nằm trong danh mục IA, số thứ tự: 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Chất ma tuý gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh của con người khi sử dụng, làm cho con người mất đi lý trí, hành xử một cách vô ý thức và gây ra nhiều tệ nạn xã hội mà không thể lường trước được. Vì những tác hại của ma tuý, nên Đ và Nhà nước ta cũng như các quốc gia trên thế giới đều kiên quyết loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội, pháp luật xử lý rất nghiêm khắc loại tội phạm này. Hành vi của bị cáo cũng đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, tiếp tay cho tệ nạn ma tuý ngày càng gia tăng, huỷ hoại lối sống, nhân cách của một số thanh niên hiện nay, gây mất trật tự trị an, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội.
Bị cáo là người có nhân thân xấu đã có 4 tiền sự, trong đó có 3 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức đầy đủ việc mua ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật, nên hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, xử hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thật nghiêm khắc để làm gương răn đe chung.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Trước khi phạm tội bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và là người mắc nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng:
Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí HSST và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7] Các vấn đề khác:
Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Đức L khai nhận số ma túy bị thu giữ bị cáo mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực cây đa chân dốc C, thuộc phường T, thành phố H. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của bị cáo thì không có tài liệu nào khác để chứng minh, do vậy, không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Nguyễn Đức L 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2024.
- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Đức L .
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,18 gam mẫu ma tuý, loại heroin cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2024 giữa Công an huyện C với Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Cao Phong).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Đức L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 36/2024/HS - ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG - TỈNH HÒA BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 36/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG - TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do nghiện ma túy nên ngày 24/6/2024 bị cáo Nguyễn Đức L đã có hành vi tàng trữ 0,25gam (không phẩy hai mươi lăm gam) ma túy, loại Heroine (Heroin), mục đích để sử dụng cho bản thân.
