|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Án số : 38/2024/HS-ST
Ngày: 26/07/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- * Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
- * Các Hội thẩm nhân dân : Ông Lê Minh Cảnh
- Ông Đỗ Công Luận
- * Thư ký ghi biên bản phiên tòa : Bà Lê Thị Phương Thuý - Cán bộ tòa án.
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh :
- Ông Bùi Nguyên H - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số : 50/2024/TLST-HS ngày 13/06/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 10/07/2024 đối với các bị cáo sau :
1/ PHẠM VĂN LỢI ( Lucky ) - Sinh năm 1979.
Nơi ĐKNKTT : 139 Lý Ông T - V - N.
Chổ ở hiện tại : 139 Lý Ông T - V - N.
Nghề nghiệp : Không ; Trình độ học vấn : Không biết chữ.
Dân tộc : Kinh; Quốc tịch : Việt Nam ; Tôn giáo : Không.
Con ông : Phạm T - (đã chết)
Con bà : Trần Thị T1 - ( đã chết ).
Vợ : Võ Thị Kim P - Sinh năm 1980.
Con: Có 01 con sinh năm 2000.
Tiền án : 04 tiền án.
- Bản án số 138 ngày 05/09/2002, của Toà án nhân dân thành phố NT xử phạt 05 năm tù về tội “ Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/04/2006 (chưa bồi thường dân sự ).
- Bán án số 08 ngày 09/01/2009, của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xử phạt 02 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/04/2010 ( chưa đóng án phí hình sự ).
- Bản án số 248 ngày 09/11/2011, của Toà án nhân dân thành phố NT xử phạt 08 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”, phạt bổ sung 10.000.000đ ( chưa đóng án phí hình sự ).
- Bản án số 271 ngày 07/12/2011, của Toà án nhân dân thành phố NT xử phạt 01 năm tù về tội “ Trốn khỏi nơi giam giữ”. Quyết định tổng hợp hình phạt số 01 ngày 16/01/2012 của Toà án nhân dân thành phố NT tổng hợp bản án số 271 và bản án số 248 nêu trên, buộc Phạm Văn L phải chấp hành hình phạt 09 năm tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 16/04/2018 ( chưa đóng án phí hình sự )
Tiền sự : Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/04/2024 - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ NGUYỄN PHÚ Q - Sinh năm 2000.
Nơi ĐKNKTT : Thôn V - xã N - TX N.
Chổ ở hiện tại : Thôn V - xã N - TX N.
Nghề nghiệp : Lao động tự do; Trình độ học vấn : 06/12.
Dân tộc : Kinh ; Quốc tịch : Việt Nam ; Tôn giáo : Không,
Con ông : Nguyễn Phú P1 - Sinh năm 1976.
Con bà : Lê Thị N - Sinh năm 1978.
Vợ, con : Không.
Gia đình có 04 anh chị em, bị can là con thứ 2.
Tiền án : Không.
Tiền sự : 01.
Ngày 01/10/2021,Chủ tịch UBND xã N ban hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường đối với Nguyễn Phú Q1 với thời hạn 03 tháng.
Bị cáo hiện đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Khánh Hoà - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại : 1/ Anh Lê Văn P2 - Sinh năm 1990.
Trú tại : TDP Phú Lộc T - TT D - huyện D.
( Có mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan :
Anh Lê Văn L1 - Sinh năm 1973
Trú tại : Tổ E - Thôn P - TT D.
( Vắng mặt )
* Nhân chứng :
Anh Phan Ngọc L2 - Sinh năm 1986.
Trú tại : Thôn T - xã D - D.
( Vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN :
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa. Nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Sáng ngày 04/11/2023, Nguyễn Phú Q1 đi xe buýt từ N đến khu vực “Lầu 7” thuộc phường V, N để mua ma tuý sử dụng thì gặp Nguyễn Văn L3 cũng là người nghiện ma tuý. Sau khi sử dụng ma tuý xong, khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, L3 rủ Q1 đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, Q1 đồng ý. L3 mượn xe mô tô hiệu Sirius ( không rõ biển kiểm soát ) của đối tượng tên T2 ( không rõ nhân thân lai lịch ) chở Q1 đi từ Tp N đến huyện D và theo đường tỉnh lộ 8 đến huyện K, khi đến đoạn gần cầu C thuộc thôn H, xã D, D, cả hai phát hiện 01 xe mô tô kiểu dáng Future, biển kiểm soát 79L5-7629 của anh Lê Văn P2 dựng trên lề đường không người trông coi nên L3 dắt trộm xe mô tô trên, sau đó Q1 ngồi lên xe trộm cắp để L3 dùng xe mô tô Sirius đẩy xe Q1 điều khiển tìm nơi tiêu thụ. Lúc này anh Phan Ngọc L2 thấy L3, Q1 có biểu hiện nghi vấn nên chặn lại, L3 điều khiển xe mô tô Sirius tẩu thoát, còn Q1 bị anh Phan Ngọc L2 giữ lại cùng xe tang vật. Sau đó, anh L2 trình báo Công an xã D đến tiếp nhận sự việc.
- Tại bản kết luận định giá tài sản số 52/KLĐGTS ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: Giá trị của xe mô tô biển kiểm soát 79L5-7629 là 2.600.000đ.
Trong quá trình điều tra, Phạm Văn L và Nguyễn Phú Q1 đã khai nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo.
- Về vật chứng vụ án :
- Xe mô tô biển kiểm soát 79L5-7629 đã trả lại cho chủ sở hữu.
- Về phần bồi thường dân sự : Bị hại anh Lê Văn P2 không yêu cầu bồi thường dân sự.
- Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSDK ngày 11/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D đã truy tố bị cáo Phạm Văn L và về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g, khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Truy tố bị cáo Nguyễn Phú Q1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Văn L và Nguyễn Phú Q1 đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phạm Văn L và Nguyễn Phú Q1 về tội danh như bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm g, khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Q1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự : Anh Lê Văn P2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau :
- Trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyển, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như những người tiến hành tố tụng. Do đó, các bước tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thực hiện có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D rút một phần bản cáo trạng về tiền án của của bị cáo Phạm Văn L ( rút tiền án của bản án số 271 ngày 07/12/2011 của Toà án nhân dân Tp NT ). Như vậy, bị cáo L chỉ còn 03 tiền án, việc rút này không trái với quy định của pháp luật nên ghi nhận. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn L1, người làm chứng anh Phan Ngọc L2 vắng mặt, tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Văn L và Nguyễn Phú Q1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu trên. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để kết luận : Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 04/11/2023, tại khu vực cầu C thuộc thôn H, xã D - D, Phạm Văn L và Nguyễn Phú Q1 đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô kiểu dáng Future, BKS 79L5-7629 của anh Lê Văn P2 có giá trị 2.600.000đ.
- Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm g, khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Phú Q1 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo L và bị cáo Q1 theo cáo trạng số 33/CT-VKSDK ngày 11/06/2024 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với hành vi phạm tội của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sở hữu hợp pháp của công dân, bị cáo là người lười lao động nhưng lại thích có tiền tiêu xài cá nhân, luôn tìm sơ hở của người khác để trộm cắp bất hợp pháp gây hoang mang cho người dân, bị cáo L thừa nhận là người rủ rê bị cáo Q1 cùng đi thực hiện hành vi trộm cắp. Bản thân bị cáo L đã chấp hành án của rất nhiều bản án trước đó nhưng không lo tu chí làm ăn mà lại tiếp tục phạm tội khi chưa được xóa án tích, là tái phạm nguy hiểm. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên bị cáo đã khai báo thành khẩn nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 51 bộ luật hình sự.
- Bị cáo Nguyễn Phú Q1 là người lười lao động nên sau khi nghe bị cáo L rủ rê đi trộm cắp là đồng ý ngay, bị cáo là đồng phạm thực hành tích cực, khi phát hiện xe máy của anh P2 thì bị cáo Q1 là người đứng cảnh giới cho bị cáo L đến lấy xe. Bản thân bị cáo Q1 cũng là người nghiện ma tuý, hiện đang cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của tỉnh Khánh Hoà, bị cáo không lo tu chí để sửa chữa lỗi lầm của mình trở thành người tốt có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, bị cáo cũng cần có một mức án thật nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong cộng đồng. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Q1 đã khai báo thành khẩn nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 51 bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa hôm nay, bị hại anh Lê Văn P2 không có yêu cầu bồi thường gì về thiệt hại nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Về án phí : Các bị cáo Phạm Văn L và Nguyễn Phú Q1 phải nộp án phí HS/ST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH :
- Áp dụng điểm g, khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử phạt :
Bị cáo Phạm Văn L 03 ( ba ) năm 06 ( sáu ) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/04/2024.
- Áp dụng khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016.
Xử phạt :
Bị cáo Nguyễn Phú Q1 01 ( một ) năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự : Anh Lê Văn P2 không có yêu cầu bồi thường về thiệt hại nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí : Các bị cáo Phạm Văn L và Nguyễn Phú Q1 mỗi người phải nộp 200.000đ án phí HS/ST.
Các bị cáo Phạm Văn L và Nguyễn Phú Q1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại phúc thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận : -TAND tỉnh Khánh Hòa - VKSND huyện D - Chi cục THA/DS huyện D - Các bị cáo và đương sự - Lưu án văn+HS |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 38/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
