Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH TƯỜNG

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày 23 tháng 4 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Thành Công

Các hội thẩm nhân dân: ông Phùng Văn Thông, ông Nguyễn Ngọc Triển

Thư ký phiên toà: Ông Lê Xuân Chín - Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở UBND xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST - HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Đức P, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1981

    Nơi cư trú: thôn H, xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn M và bà: Nguyễn Thị L; Có vợ là Nguyễn Thị H; Có 03 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2018.

    Tiền án, tiền sự: không

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, Vĩnh Phúc, có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Trần Anh T, sinh ngày 29 tháng 5 năm 1981

    Nơi cư trú: thôn H, xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Đ và bà: Chu Thị Đ1; Có vợ là Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn); Con: Chưa có con.

    Tiền án, tiền sự: không

    Nhân thân: bản án số 207/2010/HSST ngày 17/8/2010 của TAND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 02/5/2012 đã chấp hành xong hình phạt, đến nay đã chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, Vĩnh Phúc, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 20/12/2023, tại thôn N, xã T, huyện V, Công an huyện V bắt quả tang Trần Đức P, sinh năm 1981 và Trần Anh T, sinh năm 1981, đều trú tại thôn H, xã K, huyện V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

  • T1 tại tay phải P đang cầm 01 túi nilon không màu bên trong có 01 gói giấy nhỏ (mặt bên ngoài màu vàng, bên trong màu trắng) chứa chất bột, cục màu trắng, P khai nhận đó là gói ma túy Heroine của P và T vừa góp tiền mua được với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tang vật được niêm phong vào 01 phong bì thư đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A1.
  • T1 trong túi quần bên phải phía trước P đang mặc 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GOLY màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0972.924.269.
  • T1 trong túi quần bên trái phía trước T đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu vàng nhạt đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0981.247.084
  • Tạm giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đã cũ gắn BKS: 29L5 – 037.54.

Ngày 20/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 73, 74 khám xét chỗ ở của Trần Đức P, Trần Anh T ở thôn H, xã K, huyện V. Kết quả khám xét: không phát hiện, thu giữ đồ vật tài sản gì.

Ngày 20/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu số 684, trưng cầu giám định tang vật thu giữ được trong quá trình bắt quả tang đến phòng K - Công an tỉnh V để giám định mẫu vật gửi giám định có phải là chất ma túy, tiền chất gì? Khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu? Ngày 24/12/2023, Phòng KTHS Công an tỉnh V có bản Kết luận giám định số 3466, xác định:

“Chất bột cục màu trắng của mẫu ký kiệu Al gửi giám định có khối lượng 0,2244g (không phảy hai hai bốn bốn gam, không kể bao bì) là ma túy; loại Heroine (H). Heroine (H2) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

H3 lại đối tượng giám định: Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: Mẫu A1 = 0,1764 gam mẫu cùng bao gói được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 26/12/2023, Cơ quan điều tra đã thông báo nội dung kết luận giám định nêu trên cho Trần Đức P và Trần Anh T. P và T đồng ý với nội dung kết luận giám định và không có ý kiến gì.

Tại Cơ quan điều tra Trần Đức P và Trần Anh T khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 20/12/2023, P đang đi đổ bê tông ở xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc thì nhận được điện thoại từ số thuê bao 0981.247.084 của T gọi đến số thuê bao 0972.924.269 của P. Qua điện thoại T nói với P “Mày có tiền không mua thuốc về dùng”, ý của T là rủ P góp tiền đi mua ma túy để cùng sử dụng, P đồng ý và nói: “Có, lúc nào về tao điện”. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi làm về đến khu vực chợ V, xã H, huyện T thì P gọi điện thoại cho T nói “Tao về đến chợ V rồi, tao không có xe đâu, mày có xe thì đến đón tao”, T trả lời “Tao đang ở H, đây để tao đến đón”. Sau đó P đi bộ về phía thôn H, xã K được một đoạn thì thấy T đi xe máy đến. P ngồi lên xe và bảo T đi đến cây xăng ở xã T gần Thị trấn T để mua ma túy. Trên đường đi P hỏi T “Mày có bao nhiêu tiền”, T trả lời: “Tao có một trăm rưỡi”, P nói: “Thế đưa đây, để tao điện nó lấy cái ba trăm”. Sau đó, T đưa cho P số tiền 150.000 đồng, P cầm tiền đúc vào túi quần bên phải phía trước đang mặc cùng với số tiền 150.000 đồng của mình rồi dùng điện thoại di động gắn số thuê bao 0972.924.269 của P gọi vào số thuê bao 0379.535.923 của một người đàn ông không quen biết nói “Anh có không để em cái ba trăm”, ý của P hỏi mua ma túy của người đó với giá 300.000 đồng. Người đó đồng ý bán cho P và bảo P đợi ở cây xăng thuộc thôn N, xã T, huyện V. Khi P và T đi đến đoạn đường giáp cây xăng ở thôn N, xã T thì dừng lại và đứng đợi ở ven đường. Một lúc sau, có người đàn ông đi xe máy đến. Do biết đây là người bán ma tuý nên P xuống xe gặp người đàn ông đó và đưa cho người đàn ông số tiền 300.000 đồng. Người đàn ông cầm tiền Phương đưa rồi đưa lại cho P 01 túi nilon không màu bên trong có 01 gói ma túy heroine được bọc bên ngoài bằng giấy màu vàng. P cầm túi nilon chứa gói ma túy ở tay phải rồi lên xe bảo T chở đi về nhà để cùng nhau sử dụng. Khi P và T đi đến đoạn đường giáp ngã tư chợ chiều thuộc thôn N, xã T, huyện V thì bị lực lượng Công an huyện V đang làm nhiệm vụ bắt quả tang P và T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại bản cáo trạng số: 43/CT-VKSVT ngày 29 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc truy tố các bị cáo P, T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTHQH14 quy định về án phí, lệ phí.

Tuyên bố: Trần Đức P và Trần Anh T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trần Đức P từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.

Trần Anh T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.

Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

  2. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo Trần Đức P, Trần Anh T khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo thừa nhận đã có hành vi mua, sau đó tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, bị bắt quả tang vào hồi 17 giờ ngày 20/12/2023, tại khu vực thôn N, xã T, huyện V như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng và không có lời bào chữa nào khác.

    Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của chính các bị cáo, lời khai của người chứng kiến, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Trần Đức P, Trần Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

    Điều luật quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán ... thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

    C) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

  3. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo vì không vượt qua được cám dỗ, đã cất giấu ma túy để sử dụng, gây nghiện, kéo theo các hệ lụy xấu cho chính các bị cáo, cho gia đình và xã hội. Mặc dù các hành vi liên quan đến ma tuý đã được tuyên truyền giáo dục nhiều, song các tội phạm trên cũng chưa giảm, diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Vì vậy, phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

    Khi xem xét hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử đã cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng: sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt. Tuy nhiên, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tù giam nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và dăn đe phòng ngừa chung đối với xã hội. Vai trò của các bị cáo đối với hành vi phạm tội là như nhau, nhưngbị cáo T có nhân thân xấu, từng bị xử phạt bằng bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, do vậy phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo P.

    Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,......... tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

    Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo thấy rằng: các bị cáo không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản riêng có giá trị. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  4. Về nguồn gốc ma túy thu giữ khi bắt quả tang, Trần Đức P khai nhận đã mua được của một người đàn ông khoảng 20 tuổi, cắt tóc ngắn, dáng người béo, cao khoảng 1,6m, có sử dụng số điện thoại thuê bao 0379.535.xxx (P biết số điện thoại do bạn bè nghiện cho) ở gần khu vực cây xăng thuộc thôn N, xã T, huyện V. Quá trình điều tra xác định số thuê bao trên được đăng ký chính chủ mang tên bà Lê Thị T2, sinh năm 1963 ở TT. N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Cơ quan điều tra xác minh xác định trên địa bàn TT N có công dân như đã nêu trên nhưng hiện nbà T2 không còn sinh sống tại địa phương từ lâu và không rõ hiện đang ở đâu, làm gì. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

  5. Về xử lý vật chứng của vụ án:

    Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GOLY màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0972.924.269 tạm giữ của Trần Đức P; 01 chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu VIVO màu vàng nhạt đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0981.247.084 tạm giữ của Trần Anh T, quá trình điều tra xác định đó là chiếc điện thoại và sim thuê bao P và T rủ nhau cùng đi mua ma túy về sử dụng và liên hệ hỏi mua ma túy của người bán ma túy. Do vậy, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với 02 chiếc điện thoại trên và tiêu hủy đối với 02 sim thuê bao trên.

    Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu xanh đã cũ gắn BKS: 29L5-037.54 tạm giữ của Trần Anh T, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của T mua lại của một người đàn ông tên là Hoàng Văn L1, sinh năm 1967 ở phường X, quận B, TP . với giá 5.000.000đ vào năm 2020 để làm phương tiện đi làm thuê hàng ngày. Sau khi mua được ma tuý, T không cất giấu ma túy vào chiếc xe đó. Do vậy, cần trả lại chiếc xe trên cho T nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    Đối với mẫu vật A1 = 0,1764 gam mẫu và toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định do là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

  6. Về án phí: Bị cáo Trần Đức P, bị cáo Trần Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTHQH14 quy định về án phí, lệ phí.

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Đức P, Trần Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Trần Đức P 01 năm 07 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/12/2023

Trần Anh T 01 năm 09 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/12/2023

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu bán sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GOLY màu đen đã cũ; 01 chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu VIVO màu vàng nhạt đã cũ.

Tịch thu tiêu hủy: 01 sim thuê bao 0972.924.269 và 01 sim thuê bao 0981.247.084; mẫu vật A1 = 0,1764 gam mẫu.

Trả lại cho T3 anh T: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu xanh đã cũ gắn BKS: 29L5-037.54 (nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án dân sự).

(tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường)

Án phí: Trần Đức P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm; Trần Anh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - CCTHADS huyện Vĩnh Tường;
  • - Công an huyện Vĩnh Tường;
  • - TTG Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - UBND xã Kim Xá;
  • - Bị cáo Phương, Trinh;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thành Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Trần Đức Phương và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger