Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày 25-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Mạnh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thủy và bà Đỗ Thị Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Tình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kiều – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Thành T (tên gọi khác: Không); sinh năm 1989, tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm I, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phan T1, sinh năm 1963; con bà Chu Thị L, sinh năm 1964; có vợ Ngũ Thị P, sinh năm 1994 (đã ly hôn); con có 01 người, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023 cho đến nay - Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Chu Thị L, sinh năm 1964 - Có mặt.
  2. Nơi cư trú: Xóm I, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

  3. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1999 - Vắng mặt.
  4. Nơi cư trú: Xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An

- Người chứng kiến: Chị Định Thị S, sinh năm 2001 - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 27/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Phan Thành T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Hazard màu nâu, biển kiểm soát 37B1-23448 đi từ nhà mình đến khu vực chợ chiều “Làng Đ" (thuộc xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) gặp một người lái xe ôm và mua của người này 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền ma túy dạng hồng phiến. Khi nhận được ma túy từ người này, T mở ra kiểm tra thì thấy, bên trong gói giấy vệ sinh màu trắng có 02 (Hai) gói nilong đều có chứa các viên nén màu hồng (bao gồm: 01 gói ni long màu đen có chứa 06 viên, 01 gói nilong màu trắng có chứa 09 viên). Sau khi mua được ma túy, T cất giấu ma túy vào túi quần của mình rồi điều khiển xe đi lên xã Q, huyện Q để tìm địa điểm sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, khi T đi đến Km16+400, đường Q (thuộc địa phận xóm T, xã Q, huyện Q) thì bị tổ công tác Công an xã Q phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ của T các vật chứng gồm: 01 gói nilong màu trắng có chứa 09 viên nén màu hồng, 01 gói nilong màu đen có chứa 06 viên nén màu hồng; 01 xe máy nhãn hiệu Hazard màu nâu BKS 37B1-23448 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei màu đen.

Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, xác định: Số viên nén màu hồng (nghi là ma túy) thu giữ của Phan Thành T có khối lượng 1,73g (Một phẩy bảy mươi ba gam).

Kết luận giám định số 108/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 02/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Phan Thành T gửi tới giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine. Có tổng khối lượng là 1,73g.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 39/CT-VKS-QL ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Phan Thành T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định tuy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Phan Thành T từ 15 đến 18 tháng tù; không phạt tiền bổ sung.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 1,57g ma túy và vỏ gói niêm phong ban đầu.

Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại nhãn hiệu Huawei màu đen gắn sim số thuê bao 0378387281 và 0967020137.

Trả lại cho bà Chu Thị L chiếc xe máy nhãn hiệu Hazard màu nâu, BKS 37B1-23448.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T2; Buộc bị cáo Phan Thành T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vụ án có tính chất nghiêm trọng, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với sức khoẻ con người, là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh các loại tệ nạn xã hội nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng.

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang lập ngày 27/12/2023. Có cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 15 phút, ngày 27/12/2023, tại Km16+400, đường Q (thuộc địa phận xóm T, xã Q, huyện Q) khi Phan Thành T đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,73g ma túy (Methamphetamine) để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Q phối hợp với Công an xã T đã phát hiện, bắt quả tang. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS mà Viện kiểm sát đã quy kết là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có ông nội là ông Phan L1 được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì, ba và bằng khen của Cục C là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng đã cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cảm hóa, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo là lao động tự do và bị áp dụng hình phạt tù nên không phạt tiền bổ sung. Việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Đối với bà Chu Thị L đã cho bị cáo T số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) và cho mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hazard mang BKS 37B1-23448. Quá trình điều tra, xác định, bà L không biết T sử dụng số tiền và chiếc xe để đi mua ma túy về sử dụng nên bà L không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy cho Phan Thành T. Quá trình điều tra do không xác minh được tên tuổi địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

[4] Về vật chứng:

Đối với 1,57g (Một phẩy năm mươi bảy gam) ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định và vỏ gói nilong, vỏ phong bì niêm phong đã xé cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Hazard màu nâu, BKS 37B1-23448 thuộc sở hữu của bà Chu Thị L, bà L không biết việc bị cáo sử dụng khi tàng trữ ma túy nên trả lại xe cho bà L.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei màu đen, số imeil: 866405043079288, số imei2: 866405043079295, gắn sim số thuê bao 0378387281 và 0967020137 không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Phan Thành T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 27/12/2023.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 1,57g ma túy còn lại cùng vỏ gói nilong và vỏ phong bì niêm phong đã xé; trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Hazard màu nâu, BKS 37B1-23448 cho bà Chu Thị L; trả lại cho bị cáo T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Huawei màu đen, gắn sim số thuê bao 0378387281 và 0967020137 (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận lập ngày 29/3/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Thành T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh nghệ A trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND h.Quỳnh Lưu;
  • - Cơ quan điều tra h.Quỳnh Lưu;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự h.Quỳnh Lưu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp Nghệ An;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBND xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (để biết);
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Lưu;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Sỹ Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm: tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo: Phan Thành T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger