|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số:36/2024/HNGĐ-ST Ngày 24 - 07 - 2024 V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY- THÀNH PHỐ HÀNỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Trung Thành
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Bích Thuỷ
- Bà Nguyễn Thị Thi
- - Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bích Loan, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2024/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 04 năm 2024 về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; có đơn xin xét xử vắng mặt
- ĐKHKTT: Thôn X, xã X, thị xã S, TP ..
- Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã S, thị xã S, TP .
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh Q, sinh năm 1987; có đơn xin xét xử vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn X, xã X, thị xã S, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các bản tự khai tiếp theo tại Toà án, chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị đăng ký kết hôn cùng anh Nguyễn Mạnh Q vào ngày 17/01/2011, trên cơ sở được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thị xã S. Sau khi hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán, chị về sống chung cùng anh Q và bố mẹ anh Q ở tại Thôn X, xã X, thị xã S. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, đến năm 2011 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Q thường xuyên uống rượu về nhà đánh chửi chị, từ đó vợ chồng thường xuyên xẩy ra cãi nói nhau. Mâu thuẫn vợ chồng xẩy ra trầm trọng vào tháng 1 năm 2024 cũng do vợ chồng cãi nói nhau, chị bị anh Q đánh nên chị về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó đến nay không về sống chung cùng anh Q nữa, cũng từ đó chị và anh Q chấm dứt mọi quan hệ không ai quan tâm đến ai nữa. Đến nay, chị xác định không thể tiếp tục sống chung cùng anh Q nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.
Về con chung: Chị và anh Q có 02 con chung là Nguyễn Minh V, sinh ngày 09/11/2011 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 12/12/2017. Hiện nay cháu V đang ở cùng anh Q, cháu K ở cùng chị. Sau khi ly hôn, chị đề nghị được nuôi cháu K, anh Q nuôi cháu V.
Về tài sản chung và nợ: Không có
- Tại Biên bản lấy lời khai của anh Nguyễn Mạnh Q, anh Q trình bày: Anh và chị T tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thị xã S vào ngày 17/01/2011. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, đến tháng 1 năm 2024 xẩy ra mâu thuẫn cãi nói nhau và chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó đến nay không về sống chung cùng anh nữa, vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ không ai hỏi ai, nhưng anh không muốn ly hôn. Trường hợp chị T kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Nguyễn Minh V, sinh ngày 09/11/2011 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 12/12/2017. Hiện nay, cháu V đang sống chung cùng anh, cháu K ở cùng chị T. Anh đề nghị được nuôi cả hai con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp chị T đề nghị được nuôi cả hai con thì anh cũng đồng ý.
Về tài sản chung và nợ: Không có.
Do anh Nguyễn Mạnh Q không đến Toà án nên Toà án không tiến hành hoà giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T. Chị T được ly hôn anh Nguyễn Mạnh Q. Về con chung giao cháu Nguyễn Minh V, sinh ngày 09/11/2011 cho anh Q; Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 12/12/2017 cho chị T nuôi; Về tài sản chung và nợ: Không có. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Mạnh Q có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn X, xã X, thị xã S và quan hệ tranh chấp về ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện đầy đủ trình tự tố tụng và đã giao các Văn bản tố tụng, giấy triệu tập hợp lệ cho anh Nguyễn Mạnh Q. Anh Q có đơn xin được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như khi Tòa án xét xử vụ án nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Vì vậy, căn cứ Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Mạnh Q có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh Q.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Mạnh Q trên cơ sở kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17/01/2011 tại UBND xã X, thị xã S nên xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Chị T và anh Q sống chung đã xẩy ra mâu thuẫn, theo chị T năm 2011 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Q thường xuyên uống rượu về nhà đánh chửi chị, từ đó vợ chồng cãi nói nhau. Mâu thuẫn xẩy ra trầm trọng vào tháng 1 năm 2024 cũng do vợ chồng cãi nói nhau, chị bị anh Q đánh nên về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó đến nay không về sống chung cùng anh Q nữa. Anh Quân công nhận tháng 1 năm 2024 vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn cãi nhau và chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, từ đó đến nay vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ không ai quan tâm đến ai nữa.
Bà Quách Thị C là mẹ đẻ anh Q cho biết: Vợ chồng chị T, anh Q sống ly thân nhau từ tháng 1 năm 2024 cho đến nay, chị T không có tư tưởng sống chung cùng anh Q nên đây là lần thứ hai chị T bỏ đi. Vì vậy để chị T về sống chung cùng anh Q là khó xẩy ra.
Quá trình giải quyết vụ án, chị T kiên quyết đề nghị được ly hôn anh Q. Phía anh Q không muốn ly hôn chị T, nhưng không đến Tòa án tham gia hòa giải là từ bỏ quyền của mình cũng như thể hiện không mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ sông chung cùng nhau. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị T đối với anh Q.
- Về con chung: Chị T và anh Q có 02 con chung là Nguyễn Minh V, sinh ngày 09/11/2011 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 12/12/2017.
Xét yêu cầu của anh Q đề nghị được nuôi cả hai con hoặc chị T phải nuôi cả hai con. Hội đồng xét xử thấy: Hiện nay, cháu V đang sống chung cùng anh Q và bố mẹ đẻ anh Q, cháu K đang sống chung cùng chị T, cuộc sống của các cháu đang ổn định. Trường hợp giao cả hai con cho anh Q hay cho chị T nuôi sẽ không đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu, điều này phù hợp với ý kiến của bà Quách Thị C đề nghị mỗi người nuôi một con để phù hợp với điều kiện nuôi con của anh Q. Hơn nữa, nguyện vọng của cháu V được sống chung cùng anh Q, cháu K có nguyện vọng được sống chung cùng chị T nên cần giữ nguyên như hiện tại là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị nuôi con của anh Q.
- Về tài sản chung và nợ: Chị T và anh Q đều xác định không có.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án .
Xét:
- Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T.
- Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Mạnh Q.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh V, sinh ngày 09/11/2011 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 12/12/2017 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tạm hoãn nghĩa vụ nuôi con chung cho chị T và anh Q đến khi có yêu cầu mới hoặc có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Anh Q và chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ: Không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000902 ngày 17/04/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Anh Q và chị T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà Đặng Trung Thành |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
