|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập –Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24-7-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Bích Vân
Ông Trần Dương Công Hiếu
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhưỡng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Chí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 63/2024/TLST - HNGĐ, ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn H, địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Vi Thị Yến C, địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 15/5/2024, lời khai sau đó của nguyên đơn anh Hoàng Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn H và chị Vi Thị Yến C kết hôn có thời gian tìm hiểu hai bên tự nguyện đăng ký kết hôn tại đến UBND xã X (nay là xã T), huyện L ngày 11 tháng 8 năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2023 vợ chồng anh phát sinh mâu thuẫn là do trong cuộc sống hàng ngày vợ chồng anh thường bất đồng quan điểm xảy ra cãi nhau từ những việc nhỏ nhặt, nói chung vợ chồng anh không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại khuyên bảo nhiều lần nhưng không hiệu quả, vợ anh bỏ đi làm công ty, sau đó về nhà bố mẹ đẻ tại thôn T, xã P, huyện L ở cũng từ đó vợ chồng anh sống ly thân đến nay không ai quan tâm, hỏi thăm nhau việc ai người đó làm. Anh xác định vợ chồng anh không còn tình cảm, không thể chung sống với nhau được nữa, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vi Thị Yến C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên là Hoàng Nhật T, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2015 hiện cháu đang sống cùng anh, sau khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi con, vì anh có nhà ở, anh mở hiệu cắt tóc, làm đầu thu nhập ổn định khoảng 15.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng/tháng, bố mẹ anh hỗ trợ chăm sóc con và đưa đón con đi học, anh không yêu cầu chị Vi Thị Yến C cấp dưỡng tiền nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không có
Tại bản tự khai ngày 22/5/2024 bị đơn chị Vi Thị Yến C trình bày:
Chị và anh Hoàng Văn H kết hôn có thời gian tìm hiểu, hai bên tự nguyện đăng ký kết hôn tại đến UBND xã X (nay là xã T), huyện L ngày 11 tháng 8 năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống với nhau hạnh phúc được 9 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân bắt đầu từ năm 2023 vợ chồng chị thường xảy ra mâu thuẫn cãi nhau bất đồng quan điểm không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng không hiệu quả, từ tháng 9/2023 chị về nhà bố mẹ đẻ tại thôn T, xã P, huyện L ở vợ chồng chị không liên lạc với nhau, không ai quan tâm nhau và sống ly thân từ đó đến nay. Chị xác định vợ chồng không hàn gắn tình cảm được, cuộc sống vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, việc anh Hoàng Văn H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn chị đồng ý.
Về con chung : Có 01 người con là cháu Hoàng Nhật T, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2015 hiện cháu đang sống cùng anh Hoàng Văn H. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con Hoàng Nhật T và yêu cầu anh Hoàng Văn H cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn: Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn được thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, phiên tòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, Điều 71, 72 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Anh Hoàng Văn H và chị Vi Thị Yến C kết hôn trên cơ sở tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã X (nay là xã T), huyện L ngày 11 tháng 8 năm 2015 là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, chị Vi Thị Yến C đã về nhà bố đẻ ở từ tháng 9 năm 2023 đến nay, vợ chồng sống ly thân từ đó không ai quan tâm nhau. Tại Bản tự khai ngày 22 tháng 5 năm 2024 chị Vi Thị Yến C đồng ý ly hôn với anh Hoàng Văn H. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho anh Hoàng Văn H được ly hôn với chị Vi Thị Yến C. Về con chung có 01 người con chung cháu Hoàng Nhật T, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2015 hiện nay cháu đang sống cùng bố, tại bản khai ngày 24 tháng 5 năm 2024 cháu có nguyện vọng ở cùng bố Hoàng Văn H. Đề nghị Hội đồng xét xử giao người con chung là Hoàng Nhật T cho anh Hoàng Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con đến khi đủ 18 tuổi, chị Vi Thị Yến C chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh Hoàng Văn H chưa yêu cầu. Chị Vi Thị Yến C có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét.
Về án phí: Anh Hoàng Văn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng bị đơn không có mặt, không có lý do. Nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Ngày 28/6/2024 Tòa án đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn không có mặt, không có lý do, phiên tòa hoãn và thông báo mở lần hai đã được triệu tập hợp lệ cho bị đơn nhưng bị đơn không có mặt không có lý do theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn cùng cư trú tại xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ điêm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn H và chị Vi Thị Yến C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X (nay là xã T), huyện L, tỉnh Lạng Sơn ngày 11 tháng 8 năm 2015. Như vậy, hôn nhân của anh Hoàng Văn H và chị Vi Thị Yến C là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung thường xảy ra mâu thuẫn. Từ tháng 9 năm 2023 chị Vi Thị Yến C đã về nhà bố đẻ trú tại thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Lạng Sơn ở và sống ly thân từ đó đến nay, từ khi về nhà bố đẻ ở vợ chồng không ai hỏi thăm nhau, không quan tâm. Tại Bản tự khai ngày 22 tháng 5 năm 2024 chị Vi Thị Yến C đồng ý ly hôn với anh Hoàng Văn H. Như vậy việc anh Hoàng Văn H yêu cầu được ly hôn với chị Vi Thị Yến C là có căn cứ được chấp nhận.
[4] Về con chung: Có 01 người con là Hoàng Nhật T, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2015, hiện nay cháu đang sống cùng anh Hoàng Văn H, tại Bản tự khai ngày 24 tháng 5 năm 2024 cháu có nguyện vọng được ở cùng bố. Chị Vi Thị Yến C sau khi ly hôn yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh Hoàng Văn H cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng/tháng. Xét thấy, chị Vi Thị Yến C chưa có chỗ ở hiện nay đang ở nhờ nhà bố mẹ đẻ, không có thu nhập ổn định và từ khi vợ chồng ly thân cháu Hoàng Nhật T sống cùng anh Hoàng Văn H, xét về điều kiện thì chị Vi Thị Yến C chưa đủ các điều kiện để chăm sóc, giáo dục con. Đối với anh Hoàng Văn H từ khi vợ chồng sống ly thân cháu Hoàng Nhật T vẫn ở với anh, cháu hiện đang học tại Trường tiểu học xã T, huyện L, anh có nhà ở ổn định, mở hiệu cắt tóc, làm đầu thu nhập ổn định khoảng 15.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng/tháng, bố mẹ anh hỗ trợ chăm sóc con và đưa đón con đi học. Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Sau khi ly hôn vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con...... nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con phù hợp với Bản tự khai ngày 24 tháng 5 năm 2024 cháu Hoàng Nhật T có nguyện vọng ở cùng bố Hoàng Văn H. Để không bị xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt, học tập của con và xem xét các điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Hoàng Văn H có đủ các điều kiện để nuôi con. Do vậy, có căn cứ giao người con Hoàng Nhật T cho anh Hoàng Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến khi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con anh Hoàng Văn H chưa yêu cầu chị Vi Thị Yến C phải cấp dưỡng. Chị Vi Thị Yến C có quyền đi lại thăm non con chung không ai được phép ngăn cản.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Hoàng Văn H và chị Vi Thị Yến C không có tài sản chung, không nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn anh Hoàng Văn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn H được ly hôn chị Vi Thị Yến C (Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2015, đăng ký ngày 11/8/2015 tại UBND xã X (nay là xã T),huyện L, tỉnh Lạng Sơn).
- Về trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi ly hôn
Xử cho anh Hoàng Văn H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Hoàng Nhật T, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2015 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Vi Thị Yến C không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Hoàng Văn H chưa yêu cầu.
Chị Vi Thị Yến C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được phép ngăn cản.
- Về án phí: Anh Hoàng Văn H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để nộp sung ngân sách Nhà nước. Xác định Hoàng Văn H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002321 ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Hoàng Thị Ngọc |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn H được ly hôn chị Vi Thị Yến C (Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2015, đăng ký ngày 11/8/2015 tại UBND xã X (nay là xã T),huyện L, tỉnh Lạng Sơn). 2. Về trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi ly hôn Xử cho anh Hoàng Văn H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Hoàng Nhật T, sinh ngày 21 tháng 6 năm 2015 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Vi Thị Yến C không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Hoàng Văn H chưa yêu cầu. Chị Vi Thị Yến C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được phép ngăn cản.
