|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:36/2024/HS-ST Ngày 24 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt
Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vi Văn Định
2/ Ông Nguyễn Bá Điền 3/ Bà Nguyễn Thị Tần
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đào Thúy Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST- HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Q; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; sinh năm 1978; nơi sinh: Phú Thọ; Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: Tổ F, Khu V, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện nay: Tổ F, Khu V, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ ; quốc tịch Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ văn hóa:12/12; Đảng viên Đ1; Bố đẻ: Lê Ngọc D - sinh năm 1944; mẹ đẻ: Kiều Thị T - sinh năm 1956; anh, chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai; chồng: Nguyễn Trung K - sinh năm 1974; con: 02 con; lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2023 hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P
(Bị cáo có mặt)
Luật sư bào chữa cho bị cáo L: Luật sư Phạm Ngọc D1 - Công ty L1 - Đoàn luật sư tỉnh P (Có mặt)
Địa chỉ: Số A, ngõ A, phố M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Người bị hại:
1/ Chị Đào Thị Bích C, sinh năm 1974
TT: Khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ
2/ Anh Lê Văn T1, sinh năm 1973
TT: Khu G, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ
3/ Anh Lương Minh Đ, sinh năm 1997
TT: Khu A, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ
4/ Anh Nguyễn Tiến C1 và chị Hà Thị Hồng T2
TT: Tổ B, Khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ
5/ Chị Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1986
TT: Tổ A, Khu L, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ
6/ Chị Hoàng Thị B, sinh năm 1987
TT: Bản Huổi Thủng 2, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên
Chỗ ở hiện nay: Xóm Bông 2, xã Long Cốc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
(Anh Thơ, anh Đ, anh C1, chị H có mặt, chị C, chị T2, chị B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Q - sinh năm 1978, ở tổ F, khu V, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là giáo viên trường tiểu học M1 và là Đảng viên. Q đưa ra thông tin là bản thân có khả năng và có mối quan hệ xin được biên chế ngành giáo dục và xin chuyển công tác. Trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2021 đến tháng 6 năm 2022, Q nhận hồ sơ và tổng số tiền 1.030.000.000 đồng của chị Đào Thị Bích C, chị Lê Thị Mai N, anh Lương Minh Đ, anh Nguyễn Tiến C1, chị Nguyễn Thị Minh H và chị Hoàng Thị B để xin việc nhưng Q không nộp hồ sơ và sử dụng toàn bộ số tiền nhận được để chi tiêu cá nhân hết, cụ thể như sau:
1. Chị Đào Thị Bích C - sinh năm 1974, ở khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ
Thông qua em gái của chị C là chị Đào Thúy T3 - sinh năm 1978, ở phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc giới thiệu là Lê Thị Q xin được biên chế trường mầm non cho con gái chị C là cháu Tạ Thị Bích T4 - sinh năm 1997, đang là giáo viên dạy hợp đồng trường mầm non xã A, huyện P. Chị T3 cho chị C số điện thoại của Q để liên hệ. Qua nhiều lần gọi điện thoại, trao đổi giữa chị C và Q thì Q nói chi phí để xin biên chế hết 250.000.000 đồng, chỗ người quen nên Q chỉ lấy 240.000.000 đồng, xin vào trường mầm non ở P hoặc V. Ngày 19/01/2021, tại nhà ở của Q ở phường M, chị C đã đưa cho Q số tiền 200.000.000 đồng, còn lại 40.000.000 đồng khi nào có quyết định thì đưa nốt. Chị C viết giấy đưa Q số tiền 200.000.000 đồng để nhờ mua xe ô tô. Q hẹn 20 ngày sau hoặc muộn nhất là tháng 6/2021 là có quyết định. Đến hẹn, chị C nhiều lần liên lạc nhưng không đòi được tiền của Q và có đơn đề nghị đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đề nghị xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên giấy nhận tiền ngày 19/01/2021.
Tại Kết luận giám định số 961/KL-KTHS ngày 21/7/2023, Phòng K1 công an tỉnh P kết luận: "Chữ ký đứng tên Lê Thị Q và chữ viết trên "Giấy nhận tiền" (tài liệu cần giám định ký hiệu A) so với chữ ký đứng tên Lê Thị Q và chữ viết trên "Bản tự khai/ Bản tường trình) (tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M) là do cùng một người ký và viết ra.
Chị Đào Thị Bích C yêu cầu Lê Thị Q phải trả tiền lãi vì toàn bộ số tiền đưa cho Q là chị vay của ngân hàng. Q khai đã trả cho chị C số tiền 7.000.000 đồng nhưng chị C khai Q chỉ trả cho chị số tiền 3.500.000 đồng làm 2 lần, chuyển khoản đến tài khoản của Tạ Thị Bích T4 một lần là 2.000.000 đồng, một lần là 1.500.000 đồng. Chị C khai đây là tiền Q phải trả lãi cho khoản tiền chị C vay ngân hàng để đưa cho Q. Đến nay, chị C yêu cầu Q phải trả cả gốc là 200.000.000 đồng và lãi tính theo lãi suất ngân hàng, do chị C vẫn phải trả lãi ngân hàng.
2. Anh Lê Văn T1 - sinh năm 1973, ở khu 7, xã Thạch Sơn, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Anh Lê Văn T1 có mối quan hệ họ hàng với chị Trần Thị H1 - sinh năm 1980, ở khu C, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Chị H1 là bạn của Lê Thị Q. Ngày 01/ 8/2021, chị H1 cho Lê Thị Q vay số tiền 200.000.000 đồng và có viết giấy đặt cọc tiền mua nhà. Do Lê Thị Q giới thiệu bản thân có khả năng xin biên chế ngành giáo dục nên chị H1 đã nói với ông T1, cho ông T1 số điện thoại của Q để liên hệ, trao đổi. Ông Lê Văn T1 có nhiều lần gọi điện để Q xin cho con gái là Lê Thị Mai N - sinh năm 1995, ở xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ đang làm giáo viên dạy hợp đồng được biên chế tại trường mầm non xã T. Q nói chi phí xin biên chế hết 240.000.000 đồng, đưa trước 150.000.000 đồng, còn 90.000.000 đồng khi nào có quyết định thì đưa nốt, nếu không có quyết định thì Q sẽ trả lại toàn bộ tiền.
Ngày 12/8/2021, tại nhà của Lê Thị Q ở phường M, thành phố V, anh Lê Văn T1 và cháu Lê Thị Mai N đã đưa cho Q hồ sơ và số tiền 150.000.000 đồng, hẹn đến tháng 12/2021 sẽ có quyết định. Q viết giấy nhận tiền xin việc. Sau đó, Q đã sử dụng hết số tiền này. Anh Lê Văn T1 và chị Trần Thị H1 đã nhiều lần liên lạc và yêu cầu Q trả lại tiền nhưng Q không trả (Q viết giấy cam kết trả nợ vào ngày 14/9/2022) nên đã có đơn đề nghị đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đề nghị xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên giấy nhận tiền ngày 12/8/2021.
Tại Kết luận giám định số 959/KL-KTHS ngày 20/7/2023, Phòng K1 công an tỉnh P kết luận: "Chữ viết trên "GIẤY NHẬN TIỀN XIN VIỆC", đề ngày 12/8/2021 (Trừ chữ ký đứng tên Lê Văn T1 và các chữ "người dao tiền Lê Văn T1"); "BẢN CAM KẾT TRẢ NỢ", đề ngày 14/9/2022; "BẢN CAM KẾT TRẢ NỢ" (mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3) so với chữ viết trên "BẢN TỰ KHAI/BẢN TƯỜNG TRÌNH) đề ngày 16/5/2023 (mẫu so sánh ký hiệu M) là do cùng một người viết ra.
Chữ ký đứng tên "Lê Thị Q" dưới mục "Người nhận; người viết cam kết" trên "GIẤY NHẬN TIỀN XIN VIỆC; 02 BẢN CAM KẾT TRẢ NỢ" (mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3) so với chũ ký đứng tên "Lê Thị Q" dưới mục "NGƯỜI TỰ KHAI/NGƯỜI TƯỜNG TRÌNH" trên "BẢN TỰ KHAI/BẢN TƯỜNG TRÌNH) (mẫu so sánh ký hiệu M) là do cùng một người ký ra".
Anh Lê Văn T1 và cháu Lê Thị Mai N yêu cầu Lê Thị Q trả số tiền 150.000.000 đồng và tiền lãi, chị Trần Thị H1 yêu cầu Lê Thị Q trả số tiền 200.000.000 đồng và tiền lãi. Sau khi không đòi được tiền của Lê Thị Q thì anh Lê Văn T1 yêu cầu Trần Thị H1 phải trả số tiền 150.000.000 đồng vì lý do chị H1 là người giới thiệu với Q. Chị H1 đã trả cho anh T1, cháu N là người nhận tiền 150.000.000 đồng. Chị H1 và N khai khi đưa tiền thì H1 nói N cần tiền thì cứ cầm trước, khi nào Q trả thì trả lại cho H1 sau. Nguồn gốc số tiền này là của cháu N, nhưng do không hiểu biết nên cháu nhờ bố là anh T1 đứng ra trao đổi, giao nhận tiền với Q và là người đứng đơn tố cáo Q.
3. Anh Lương Minh Đ - sinh năm 1997, ở khu 13, xã Bắc Sơn, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
Anh Lương Minh Đ là bạn học của anh Nguyễn Duy N1 - sinh năm 1997, ở huyện C, tỉnh Phú Thọ. Anh N1 có quen biết với Lê Thị Q và được Q giới thiệu là Q có khả năng xin biên chế ngành giáo dục. Anh N1 đã nhờ Q xin biên chế nhưng sau đó anh N1 đã tự thi tuyển vào trường trung học cơ sở xã V, huyện C nên không nhờ Q nữa. Anh N1 cho anh Đ số điện thoại của Q để tự liên hệ, trao đổi xin cho anh Đ vào biên chế tại trường trung học cơ sở ở huyện T. Q nói trường hợp của anh Đ khó xin nên chi phí phải hết 300.000.000 đồng và phải đưa tiền ngay. Anh Đ đồng ý.
Ngày 18/11/2021, tại nhà của Lê Thị Q ở phường M, thành phố V, anh Đ cùng mẹ là bà Phạm Thị P - sinh năm 1960 đã đưa cho Q hồ sơ và số tiền 100.000.000 đồng, hẹn 2 tháng sau sẽ có quyết định. Q viết giấy nhận tiền. Đến ngày 23/11/2021, Q gọi điện thoại giục anh Đ đưa nốt số tiền cho Q. Cùng ngày, anh Đ chuyển khoản cho Q số tiền 100.000.000 đồng. Ngày 24/11/2021, anh Đ tiếp tục chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng. Ngày 29/11/2021, anh Đ chuyển khoản cho Q số tiền 50.000.000 đồng. Tổng số tiền Lê Thị Q nhận của anh Lương Minh Đ là 300.000.000 đồng. Ngày 18/11/2021, Q viết lại giấy vay tiền của anh Đ số tiền 300.000.000 đồng, hẹn 2 tháng sau sẽ trả. Sau đó, Q đã sử dụng hết số tiền này. Anh Lương Minh Đ đã nhiều lần liên lạc và yêu cầu Q trả lại tiền nhưng Q không trả nên đã có đơn đề nghị đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đề nghị xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên giấy vay tiền ngày 18/11/2021.
Tại Kết luận giám định số 924/KL-KTHS ngày 14/7/2023, Phòng K1 công an tỉnh P kết luận: "Chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Thị Q trên "Giấy vay tiền" (mẫu cần giám định ký hiệu A) so với chữ viết, chữ ký của Lê Thị Q trên "Bản tự khai/Bản tường trình" (mẫu so sánh ký hiệu M) là do cùng một người viết và ký ra.
Anh Lương Minh Đ yêu cầu Lê Thị Q phải trả đủ số tiền 300.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã khởi tố từng vụ án và khởi tố bị can đối với Lê Thị Q, đồng thời ra Quyết định nhập vụ án hình sự và ngày 25/8/2023, chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P để giải quyết theo thẩm quyền.
4. Anh Nguyễn Tiến C1 - sinh năm 1979, ở tổ B, khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ
Lê Thị Q là cô giáo của con gái anh C1 nên có quen biết nhau. Q giới thiệu là bản thân có khả năng xin biên chế nhà nước, xin chuyển công tác. Anh C1 đặt vấn đề nhờ Q xin chuyển công tác cho vợ anh là chị Hà Thị Hồng T2 - sinh năm 1983, đang công tác tại Bệnh viện S chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh S. Q nói chi phí hết 130.000.000 đồng, hẹn tháng 6/2021 sẽ có quyết định, nếu không xin được sẽ trả lại toàn bộ tiền.
Ngày 02/4/2021, tại nhà của Lê Thị Q ở phường M, thành phố V, anh Nguyễn Tiến C1 và chị Hà Thị Hồng T2 đã đưa cho Q hồ sơ và số tiền 100.000.000 đồng. Q viết giấy vay tiền. Đến ngày 8/4/2021, cũng tại nhà ở của Q, anh C1 và chị T2 đưa tiếp cho Q 30.000.000 đồng và viết thêm vay số tiền 30.000.000 đồng vào giấy vay tiền của ngày 02/4/2021. Đến hẹn nhưng không thấy quyết định nên anh C1 và chị T2 nhiều lần đòi tiền Q. Q viết 2 giấy hẹn trả nợ. Q đã chuyển khoản trả cho chị T2 4 lần với tổng số tiền 9.500.000 đồng. Còn lại 120.500.000 đồng không trả. Anh C1 làm đơn tố cáo đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P xử lý và yêu cầu Q phải trả số tiền 120.500.000 đồng.
5. Chị Nguyễn Thị Minh H - sinh năm 1986, ở tổ A, khu L, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ
Chị Nguyễn Thị Minh H hiện đang là giáo viên trường Đại học C2, địa chỉ ở khu A, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ, có nhu cầu chuyển công tác về gần nhà ở thành phố V. Qua giới thiệu của chị Nguyễn Thị B1 - sinh năm 1986, ở khu C, phường M, thành phố V là em gái của chồng chị H là anh Nguyễn Xuân M - sinh năm 1985 nên chị H đã liên hệ, trao đổi với Q, đặt vấn đề xin chuyển công tác. Q nói chi phí hết 200.000.000 đồng, hẹn đến tháng 7/2021 sẽ có quyết định, nếu không sẽ trả lại toàn bộ tiền.
Ngày 24/5/2021, tại nhà của Lê Thị Q ở phường M, thành phố V, chị H và anh M đã đưa cho Q hồ sơ và số tiền 200.000.000 đồng. Q viết giấy vay tiền. Đến hẹn không có quyết định nên chị H đòi tiền Q nhiều lần. Q đã trả cho chị H số tiền 10.000.000 đồng. Ngày 4/4/2022 Q viết giấy hẹn trả nợ, nhưng đến nay không trả. Chị H đã làm đơn đề nghị xử lý và yêu cầu Q phải trả 190.000.000 đồng.
6. Chị Hoàng Thị B - sinh năm 1987, ở bản H, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên
Chị B là giáo viên trường P1 thuộc xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên, có nhu cầu chuyển công tác về các trường học thuộc huyện T, tỉnh Phú Thọ cho gần nhà. Qua giới thiệu của anh Nguyễn Quang V - sinh năm 1981, ở xóm C, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ, chị B quen và trao đổi với Lê Thị Q. Q tự giới thiệu với chị B là bản thân có khả năng xin chuyển công tác. Q nói với chị B chi phí hết 140.000.000 đồng, sau 2 tháng sẽ có quyết định. Q yêu cầu chị B đưa trước 100.000.000 đồng, khi nào có quyết định thì đưa nốt tiền. Chị B chỉ đồng ý chuyển trước số tiền 50.000.000 đồng.
Ngày 25/6/2022, chị B đưa cho Q 2 bộ hồ sơ và chuyển khoản cho Q số tiền 50.000.000 đồng với nội dung chuyển khoản "e bi cho chi quyen vay tien". Sau khi nhận tiền, ngày 25/6/2022, Q viết giấy vay của chị B số tiền 50.000.000 đồng.
Đến hẹn không có quyết định nên chị B đã đòi tiền Q nhiều lần nhưng Q không trả, chị B có đơn đề nghị xử lý đối với Q và yêu cầu Q phải trả 50.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên giấy vay tiền Q viết cho chị Hoàng Thị B, anh Nguyễn Tiến C1 và chị Nguyễn Thị Minh H.
Tại Kết luận giám định số 1647/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận:
"Chữ ký đứng tên Lê Thị Q trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5) so với chữ ký đứng tên Lê Thị Q trên mẫu so sánh (ký hiệu M) là do cùng một người ký ra.
Chữ viết trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6) (trừ chữ viết tại mục "Người làm chứng" trên mẫu A1) so với chữ viết trên mẫu so sánh (ký hiệu M) là do cùng một người viết ra".
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại yêu cầu Lê Thị Q phải trả tiền gồm: Chị Đào Thị Bích C yêu cầu trả 200.000.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất ngân hàng từ tháng 1/2021; Anh Lê Văn T1 yêu cầu trả 150.000.000 đồng và lãi tính theo lãi suất ngân hàng từ tháng 8/2021; anh Lương Minh Đ yêu cầu trả 300.000.000 đồng; Anh Nguyễn Tiến C1 và chị Hà Thị Hồng T2 yêu cầu trả 120.500.000 đồng; chị Nguyễn Thị Minh H yêu cầu trả 190.000.000 đồng; chị Hoàng Thị B yêu cầu trả 50.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 36/CT-VKSPT-P1 ngày 09/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo: Lê Thị Q về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ thực hành quyền công tố luận tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 39 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Q từ 13 đến 14 năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi bị bắt tạm giữ, tạm giam 09/8/2023.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại gồm: Chị Đào Thị Bích C 200.000.000 đồng; Anh Lê Văn T1 150.000.000 đồng; anh Lương Minh Đ 300.000.000 đồng; Anh Nguyễn Tiến C1 và chị Hà Thị Hồng T2 120.500.000 đồng; chị Nguyễn Thị Minh H 190.000.000 đồng; chị Hoàng Thị B 50.000.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng truy tố, bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và phù hợp với pháp luật.
[2] Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội:
Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 6 năm 2022, để có tiền chi tiêu cá nhân, Lê Thị Q đã tự giới thiệu mình có khả năng xin biên chế, xin chuyển công tác để nhận và chiếm đoạt của chị Đào Thị Bích C số tiền 200.000.000 đồng; của anh Lê Văn T1 số tiền 150.000.000 đồng; của anh Lương Minh Đ số tiền 300.000.000 đồng; của anh Nguyễn Tiến C1 số tiền 130.000.000 đồng; của chị Nguyễn Thị Minh H số tiền 200.000.000 đồng và của chị Hoàng Thị B số tiền 50.000.000 đồng. Tổng số tiền Q đã nhận và phải chịu trách nhiệm hình sự là 1.030.000.000 đồng. Hồ sơ của những người xin biên chế và chuyển công tác Q đã bỏ đi, còn lại tiền Q chi tiêu hết.
Lê Thị Q phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung hình phạt là chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, đồng thời phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "Phạm tội 02 lần trở lên". Hành vi phạm tội của Lê Thị Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo chiếm đoạt số tiền của nhiều bị hại với số tiền lớn, do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội từ 02 lần trở lên, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hộị, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Quá trình giải quyết vụ án bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trong quá trình công tác bị cáo có nhiều thành tích được tặng thưởng danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở, giám đốc sở giáo dục đào tạo tỉnh P tặng giấy khen và Liên đoàn lao động huyện P tặng giấy khen, nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s,v khoản 1 Điều 51BLHS, ngoài ra bố mẹ bị cáo là người có công với cách mạng, bố được tặng Huân chương, mẹ được tặng Huy chương nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với những người giới thiệu gồm chị Đào Thúy T3, Trần Thị H1, Nguyễn Thị B1, Nguyễn Duy N1, Cơ quan điều tra đã làm rõ, những người này do tin tưởng Q nên đã giới thiệu với người thân, bạn bè để họ trực tiếp liên lạc, trao đổi, thống nhất với Q, do vậy không có căn cứ để xử lý là phù hợp. Riêng đối với Nguyễn Quang V, hiện không có mặt tại địa phương nên không có căn cứ để xác định.
Đối với đề nghị và tố cáo mà chị Trần Thị H1 đồng gửi đơn với anh Lê Văn T1, Cơ quan điều tra đã xác minh xác định khoản tiền 200.000.000 đồng mà chị H1 đưa cho Lê Thị Q là tiền vay, đây là giao dịch dân sự, nếu chị H1 có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Đối với nội dung khi giao nhận tiền để xin biên chế hoặc chuyển công tác mà Q viết là giấy vay tiền, do những người bị hại yêu cầu Q viết như vậy vì họ không muốn ảnh hưởng đến quá trình công tác nhưng bản chất đây chính là tiền đưa cho Q để xin biên chế và chuyển công tác.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng gì nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại là chị Đào Thị Bích C và anh Lê Văn T1 đề nghị bị cáo trả cho bị hại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt và đề nghị tính lãi xuất. Tuy nhiên, số tiền các bị hại đưa cho bị cáo không phải là khoản tiền cho vay mà là tiền đưa cho để chạy việc, nên pháp luật quy định không được tính lãi. Tại phiên tòa bị cáo và các bị hại xác định, hiện bị cáo còn nợ chị Đào Thị Bích C 200.000.000 đồng, anh Lê Văn T1 150.000.000 đồng; anh Lương Minh Đ 300.000.000 đồng; anh Nguyễn Tiến C1 và chị Hà Thị Hồng T2 120.500.000 đồng; chị Nguyễn Thị Minh H 190.000.000 đồng; chị Hoàng Thị B 50.000.000 đồng. Do vậy, buộc bị cáo có trách nhiệm trả nợ cho các bị hại số tiền trên.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 39 của Bộ luật Hình sự .
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Q phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Lê Thị Q 12 (mười hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 09/8/2023
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS.
Buộc bị cáo Lê Thị Q phải bồi thường cho chị Đào Thị Bích C số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng);
Buộc bị cáo Lê Thị Q phải bồi thường cho anh Lê Văn T1 số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng);
Buộc bị cáo Lê Thị Q phải bồi thường cho anh Lương Minh Đ số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng);
Buộc bị cáo Lê Thị Q phải bồi thường cho anh Nguyễn Tiến C1 và chị Hà Thị Hồng T2 số tiền 120.500.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng);
Buộc bị cáo Lê Thị Q phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh H số tiền 190.000.000 đồng (Một trăm chín mươi chiệu đồng);
Buộc bị cáo Lê Thị Q phải bồi thường cho chị Hoàng Thị B số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng);
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Thị Q chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 42.900.000đồng (Bốn mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự trong án hình sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
“Trêng hîp quyÕt ®Þnh ®îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ngêi ®îc thi hµnh ¸n d©n sù, ngêi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ cưìng chÕ thi hµnh ¸n theo qui ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7, 7a vµ 9 luËt thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ®îc thùc hiÖn theo qui ®Þnh t¹i ®iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù”.
BÞ c¸o, người bị hại có mặt tại phiên tòa cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy b¶n ¸n ®îc giao cho họ hoặc được niêm yết ®Ó ®Ò nghÞ xÐt xö theo tr×nh tù phóc thÈm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Bích Lượt |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Q - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
