Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲ CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày: 24 – 5 – 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Vi Anh Tú.
  • 2/ Bà Lô Thị Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Vị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST – HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quang Văn L, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1970 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản Bua, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quang Văn D (đã chết) và bà Quang Thị D1 (đã chết); vợ, con: Chưa có, chung sống như vợ chồng với chị Lo Thị T, sinh năm 1971 trú tại bản Bua, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 1990 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 04 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm, trừ thời gian tạm giam 02 tháng, còn phải chấp hành 46 tháng về tội “Cướp tài sản của công dân” tại Bản án số 12/1990/HSST ngày 20/12/1990. Năm 1993 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” tại Bản án số 01/1993/HSST ngày 12/01/1993, tổng hợp với hình phạt của Bản án số 12/1990/HSST ngày 20/12/1990, buộc chịu hình phạt chung cả hai bản án là 57 tháng tù giam, trừ đi thời hạn tạm giam 02 tháng buộc phải chấp hành 55 tháng tù giam. Năm 1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 15 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại Bản án số 380/HSST ngày 14/12/1999, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương ngày 17/6/2011 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 đến nay. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/01/2024 Quang Văn L từ nhà đi bộ một mình ra Quốc lộ D bắt xe khách lên huyện Q tìm mua ma túy với mục đích để sử dụng, khi đến khu vực cầu treo thuộc bản Thanh Phong 2, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì xuống xe, trên đường đi bộ vào trong bản L gặp được một người đàn ông không quen biết có biểu hiện giống người sử dụng chất ma túy, qua trao đổi biết người đàn ông có ma túy nên L hỏi mua với số tiền 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) và được người đàn ông đồng ý bán cho 06 (sáu) gói nhỏ, mỗi gói được bọc bên ngoài bằng mảnh bao ni lông màu hồng. Sau khi mua được ma túy L cất giấu vào túi quần đùi bên trái đang mặc và bắt xe khách trở về nhà, về đến nhà L sử dụng hết 02 (hai) gói ma túy đã mua được, còn lại 04 (bốn) gói cất giấu trong túi quần đùi đang mặc của mình, đến khoảng 9 giờ 30 phút ngày 13/01/2024 khi L đi bộ từ nhà ra khu vực ruộng lúa để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an xã C yêu cầu kiểm tra hành chính bắt quả tang đang cất giấu 04 (bốn) gói ma túy trong túi quần đùi bên trái đang mặc, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng giao cơ quan chức năng điều tra, xử lý theo quy định.

Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 13/01/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định: Sau khi mở niêm phong, bên trong gói niêm phong có 04 (bốn) gói đều được gói bên ngoài bằng mảnh bao ni lông màu hồng, bên trong chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M4). Gói thứ nhất (ký hiệu M1) có tổng khối lượng cả bì là 0,185g (không phẩy một trăm tám mươi lăm gam), sau khi loại bỏ bao bì chất rắn màu trắng có tổng khối lượng là 0,1g (không phẩy một gam), cán bộ kỹ thuật hình sự lấy toàn bộ đưa đi giám định tính chất ma túy; Gói thứ hai (ký hiệu M2) có tổng khối lượng cả bì là 0,15g (không phẩy mười lăm gam), sau khi loại bỏ bao bì chất rắn màu trắng có tổng khối lượng là 0,08g (không phẩy không tám gam), cán bộ kỹ thuật hình sự lấy toàn bộ đưa đi giám định tính chất ma túy; Gói thứ ba (ký hiệu M3) có tổng khối lượng cả bì là 0,115g (không phẩy một trăm mười lăm gam), sau khi loại bỏ bao bì chất rắn màu trắng có tổng khối lượng là 0,05g (không phẩy không năm gam), cán bộ kỹ thuật hình sự lấy toàn bộ đưa đi giám định tính chất ma túy; Gói thứ tư (ký hiệu M4) có tổng khối lượng cả bì là 0,15g (không phẩy mười lăm gam), sau khi loại bỏ bao bì chất rắn màu trắng có tổng khối lượng là 0,07g (không phẩy không bảy gam), cán bộ kỹ thuật hình sự lấy toàn bộ đưa đi giám định tính chất ma túy. Số vật chứng còn lại bao gồm các mảnh bao ni lông màu hồng và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo đúng quy định.

Kết luận giám định số: 176/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “- 04 (bốn) mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M4) thu giữ của Quang Văn L gửi tới giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- Số chất rắn màu trắng (04 gói) thu giữ của Quang Văn L có tổng khối lượng là 0,3g (không phẩy ba gam).”

Bản cáo trạng số: 31/CT-VKS-QC ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Quang Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Quang Văn L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.

Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng còn lại gồm các mảnh bao ni lông màu hồng cùng toàn bộ vỏ bao lấy mẫu, niêm phong cũ được niêm phong lại theo quy định.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để được sớm trở về với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:

Khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 13/01/2024 tại khu vực bản B, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Khi tiến hành kiểm tra hành chính đối với bị cáo Quang Văn L, tổ công tác Công an xã C phát hiện bị cáo cất giấu trong túi quần đùi bên trái đang mặc 04 (bốn) gói ma túy (Heroine) được bọc bên ngoài bằng mảnh bao ni lông màu hồng với mục đích để sử dụng, khối lượng ma túy sau khi loại bỏ bao gói có tổng trọng lượng là 0,3g (không phẩy ba gam). Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, đã từng bị xét xử nhiều lần nên nhận thức được tác hại của chất ma túy nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, để thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân đã cố ý phạm tội, do đó cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo cho thấy, bị cáo trước khi phạm tội là lao động tự do không có công việc và thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam, không có tài sản riêng và khả năng thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Căn cứ vào lời khai của bị cáo Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh về người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An nhưng không xác định được danh tính, nhân thân nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định.

[7] Về vật chứng: Khối lượng chất ma túy (Heroine) thu được từ bị cáo đã được gửi đi giám định hết, số vật chứng còn lại gồm các mảnh bao ni lông màu hồng cùng vỏ bao niêm phong cũ là những vật không có giá trị và giá trị sử dụng nên xem xét tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.
    Xử phạt bị cáo Quang Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 13/01/2024.
  2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    Tịch thu tiêu hủy các mảnh bao ni lông màu hồng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi: “Vật chứng còn lại thuộc vụ Quang Văn L - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 13/01/2024 tại xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An”... (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 12/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An)
  3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    Buộc bị cáo Quang Văn L chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan THADS huyện Quỳ Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu, NA;
  • - Bị cáo;
  • - lưu HS, VP;

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hà Văn Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T nghiện chất ma túy nên đã mua được 06 gói nhỏ ma túy, sau đó L sử dụng hết 02 gói còn 04 gói cất giấu với mục đích để sử dụng dần, sau khi bị kiểm tra hành chính lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ 04 gói ma túy (heroine) có trọng lượng là 0,4g.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger