TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày 24-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hà Thế Nam
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thanh Không
ông Trần Minh Tiến
- Thư ký phiên tòa: ông Vũ Đình Bách – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Thanh – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) huyện C, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 08/5/2024 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc C, sinh ngày: 08/5/1984, tại Đồng Nai, CCCD số: [...]; nơi thường trú và cư trú: nhà không số, đường N, khu D, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Ngọc T, sinh năm: 1954 (đã chết) và bà Trương Thị Minh H, sinh năm: 1960; gia đình có 04 anh, chị, em; bị cáo lớn nhất; vợ: Nguyễn Thị Kim T1 (đã ly hôn), con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không.
Ngày 18/11/2022 bị bắt, tạm giữ đến ngày 20/11/2022 được trả tự do (do Viện kiểm sát (VKS) không phê chuẩn).
Từ ngày 09/3/2023 đến ngày 08/12/2023 bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tại Viện pháp y tâm thần Trung ương B.
Ngày 05/02/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyện C khởi tố bị can. Bị bắt và tạm giam từ ngày 22/02/2024 cho đến nay. (Có mặt)
Bị hại: anh Trần Văn K, sinh năm: 1995, địa chỉ: số I, đường L - S, tổ E, ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai; (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- ông Huỳnh Anh T2, sinh năm: 1982, địa chỉ: số B, Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (Vắng mặt)
- chị Trần Kim T3, sinh năm: 1992, địa chỉ: số nhà A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (Vắng mặt)
- bà Trương Thị Minh H, sinh năm: 1960, địa chỉ: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; (Có mặt)
Người làm chứng:
- ông Na S, sinh năm: 1984, địa chỉ: tổ A, ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; (Vắng mặt)
- chị Lê Thị P, sinh năm: 1981, địa chỉ: tổ G, ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; (Vắng mặt)
- anh Trần Minh T4, sinh năm: 1979, địa chỉ: tổ D, ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; (Vắng mặt)
- chị Phạm Thị Hoài T5, sinh năm: 1987, địa chỉ: tổ E, khu D, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai; (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 16/11/2022, bị cáo Phạm Ngọc C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nozza, BKS 60B5-311.78 từ nhà thuộc khu D, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai đi đến nhà của ông Na S để chơi. Đến nơi, thấy ông Na S không có ở nhà, C để xe mô tô BKS 60B5-311.78 phía trước rồi đi bộ ra phía sau rẫy nhà ông Na S. C đi bộ đến khu vực Trường bắn quốc gia khu vực III thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện có 01 bộ đồ bộ đội của anh Huỳnh Anh T2 đang treo ở trên võng, trong túi áo có 01 tấm bản đồ và 01 ví da, trong ví có một số giấy tờ. Do hoang tưởng, C nghĩ rằng quân đội đã chuẩn bị cho mình nên C đã mặc bộ đồ bộ đội vào, bỏ lại bộ quần áo của C tại hiện trường. Chức tiếp tục đi bộ đến khu vực rẫy của anh Trần Minh T4 thuộc ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, C phát hiện có 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 60B8-752.48 của anh Trần Văn K đang dựng trong vườn rẫy, trên xe có cắm sẵn chìa khóa nên C đã lấy chiếc xe mô tô trên rồi điều khiển xe đi về tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Sau đó C thuê một nhà nghỉ (không rõ địa chỉ) tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu để ở. Đến ngày 17/11/2022 C điều khiển xe quay về lại nhà của ông Na S thì bị Công an xã X phát hiện xử lý.
Tại Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐG ngày 29/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện C, tỉnh Đồng Nai kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 60B8-752.48 có giá trị là 17.750.000 đồng.
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 109/KL-VPYTW ngày 21/02/2023 của Viện pháp y tâm thần Trung ương B kết luận:
- + Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị rối loạn loạn thần do sử dụng cần sa với hoang tưởng chiếm ưu thế (F12.51-ICD.10)
- + Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện nay: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Ngày 06/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện C ra Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với C.
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 878/KLBB-VPYTW ngày 24/11/2023 của Viện pháp y tâm thần Trung ương B kết luận: Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.
* Về vật chứng vụ án:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Y, BKS 60B8-752.48 quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu hợp pháp của anh Trần Văn K. CQCSĐT Công an huyện C đã xử lý: trả lại cho anh K theo quy định.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Y1, BKS 60B5-311.78 quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu hợp pháp của bà Trương Thị Minh H. CQCSĐT Công an huyện C đã xử lý: trả lại cho bà H theo quy định.
* Về trách nhiệm dân sự:
Anh Trần Văn K đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu gì thêm.
Anh Huỳnh Anh T2 đã làm lại giấy tờ đã mất nên không có yêu cầu gì về dân sự.
Bản cáo trạng số: 36/CT-VKSCM ngày 22/4/2024 của VKSND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Phạm Ngọc C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo C mức án từ 12 tháng đến 14 tháng tù. Về xử lý vật chứng: đã được CQCSĐT xử lý theo quy định nên không xét. Về trách nhiệm dân sự: không ai yêu cầu nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của CQCSĐT, Điều tra viên, VKSND và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, HĐXX nhận thấy: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành các thủ tục tố tụng và thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS); đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố; quá trình điều tra các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của CQCSĐT, Điều tra viên, VKSND và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy: những người vắng mặt, gồm: những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng nhưng họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng trong hồ sơ và không ai yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự; việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 của BLTTHS.
[3] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: do bị cáo sử dụng cần sa nên hoang tưởng, cho rằng quân đội cần bị cáo đến Bà Rịa V họp và ra chiến trường; trên đường đi bị cáo phát hiện một số vật dụng và đồ dùng cá nhân của anh Huỳnh Anh T2, cũng như chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 60B8-752.48 của anh Trần Văn K có treo chìa khóa trên móc ba-ga xe là do quân đội chuẩn bị sẵn cho mình nên đã chiếm đoạt; ngày hôm sau bị cáo nhận ra sự việc không đúng nên đã mang xe mô tô quay về lại nhà ông Na S thì bị bắt. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai, bản cung của bị cáo đã được thu thập trong hồ sơ; phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó xác định được: vào chiều ngày 16/11/2022 bị cáo C đã lợi dụng sự mất cảnh giác, lơ là trong việc quản lý tài sản của bị hại Trần Văn K nên đã lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 60B8-752.48 của bị hại có giá trị theo kết quả định giá tài sản là 17.750.000 đồng. Mặc dù bị cáo C thực hiện hành vi lấy trộm tài sản trong tình trạng mất khả năng nhận thức và điều điều khiển hành vi do dùng chất kích thích mạnh (ma túy cần sa), nhưng theo quy định tại Điều 13 của BLHS thì bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo C là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương; đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.
[4] Bị cáo là thanh niên trưởng thành, có sức khỏe và khả năng lao động, chỉ vì thích hưởng thụ nên sớm đi vào con đường nghiện ngập và dẫn đến bệnh hoang tưởng, mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý nên cần phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã mang tài sản trở về và được thu hồi trả lại cho bị hại; tại phiên tòa, bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên HĐXX xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
[7] Về xử lý vật chứng: đã được CQCSĐT xử lý trả lại cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phù hợp pháp luật nên không xử lý lại.
[8] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173 của BLHS;
Tuyên bố bị cáo: Phạm Ngọc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS
Xử phạt:
bị cáo Phạm Ngọc C 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt và tạm giam: 22/02/2024.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án
Buộc bị cáo Phạm Ngọc C phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; riêng những đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật tố tụng./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hà Thế N |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc C, “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015
