|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày 24/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm
Ông Lê Đăng Thiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024.
Đối với bị cáo: Lê Thị H, sinh ngày 29/12/1975 tại: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Minh S (đã chết) và bà Đặng Thị V (đã chết); Có chồng là Nguyễn Văn T và 03 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lê Sỹ P, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
2. Anh Trần Văn T1, sinh năm 1984, địa chỉ: Khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ khoảng tháng 09 năm 2023 đến ngày 09/01/2024, Lê Thị H, trú tại thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa lợi dụng việc một số người dân trên địa bàn huyện T, tỉnh Thanh Hóa thiếu thốn về tài chính, có nhu cầu vay tiền để chi tiêu, làm ăn, đã cho anh Lê Sỹ P và Trần Văn T1 vay tiền với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày, thu lợi bất chính hàng chục triệu đồng.
Khi có người hỏi vay tiền, Lê Thị H thoả thuận, thống nhất về số tiền cho vay, lãi suất và 01 tháng đóng lãi một lần. Sau đó, đưa tiền trực tiếp hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng cho người vay, lập giấy vay, giữ lại để theo dõi, quản lý. Lê Thị H sử dụng tài khoản mở tại Ngân hàng N (A), số tài khoản 3511333368999 đứng tên LÊ THỊ HẢI để chuyển tiền gốc cho vay, nhận tiền lãi, gốc từ người vay.
Các trường hợp vay lãi cụ thể:
1. Khoản vay của anh Lê Sỹ P, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa:
- Lần 1: Vào ngày 30/9/2023, anh P cần tiền nên đã đến nhà Lê Thị H hỏi vay số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng). Tại đây anh P có gặp H và đề cập vay số tiền trên và được H đồng ý cho vay, H có nói với P lãi 3000đ/1 triệu/ngày, do đang cần tiền nên anh P đồng ý vay tiền với lãi suất như trên. Sau khi anh P đồng ý vay tiền thì H bảo anh P viết và ký tên cho H một tờ giấy làm tin với nội dung là “Giấy vay tiền” vay số tiền 120.000.000đ, có tên người vay là Lê Sỹ P, còn bên cho vay thì H đọc cho anh P ghi phần người cho vay đề là Lê Văn H1. Sau khi viết giấy và ký tên xong thì H đưa cho anh P số tiền 120.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Phải đóng lãi một lần theo tháng số tiền 10.800.000đ (Mười triệu tám trăm nghìn đồng). Gói vay này anh P đã trả tổng số tiền lãi cho bà H đến ngày 09/01/2024 là 36.000.000đ (ba mươi sáu triệu đồng). Khoản vay này P đã trả được 20.000.000đ tiền gốc và nợ lại 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
Đối với khoản vay 120.000.000 đồng của anh P: Tiền lãi theo thỏa thuận trong 101 ngày là 36.360.000 đ (109,5%/năm), tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 6.641.095 đ, thu lợi bất chính là 29.718.905 đ. Tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo đã thu của anh P là 29.358.905 đ.
- Lần 2: Vào ngày 29/11/2023, anh P cần tiền nên đã đến nhà Lê Thị H hỏi vay số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Tại đây anh P có gặp H và đề cập vay số tiền trên và được H đồng ý cho vay, H có nói với P lãi 3000đ/1 triệu/ngày, do đang cần tiền nên anh P đồng ý vay tiền với lãi suất như trên. Sau khi anh P vay tiền, H bảo P viết và ký tên cho H một tờ giấy làm tin với nội dung là “Giấy vay tiền” vay số tiền 50.000.000đ, có tên người vay là Lê Sỹ P còn bên cho vay là Nguyễn Văn H2. Sau khi viết giấy và ký tên xong thì H chuyển khoản từ số tài khoản 3511333368999, ngân hàng A của bà H số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Ngày 05/12/2023, anh P đã thanh toán 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền lãi, tiền gốc 50.000.000₫ anh P cũng đã thanh toán.
Đối với khoản vay 50.000.000 đồng của anh P: Tiền lãi theo thỏa thuận trong 06 ngày là 1.200.000 đồng (146,5%/năm), tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 164.383 đ, thu lợi bất chính là 1.035.617 đ. Tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo đã thu của anh P là 1.035.617 đ.
- Lần 3: Ngày 07/12/2023, anh P đến vay của H 10.000.000đ tiền mặt với lãi suất 3000đ/1triệu/ngày. Do đã vay các gói nhiều tiền trước đó nên gói vay này H không yêu cầu anh P phải viết giấy tờ hay thế chấp gì cả. Ngày 28/12/2023, do cần tiền nên H yêu cầu P trả tiền lãi và gốc của khoản vay thứ nhất trước hạn. Tuy nhiên anh P chưa có tiền nên đã chuyển khoản cho H số tiền 4.000.000đ từ số tài khoản của anh P 0964.662.894 đến số tài khoản 3511333368999, ngân hàng A của H và xin khất khi có tiền sẽ trả tiếp. Đến ngày 08/01/2024 anh P chuyển khoản số tiền số tiền 29.300.000₫ (Hai mươi chín triệu ba trăm nghìn đồng) trong đó gồm: 1.020.000đ (Một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) tiền lãi và 10.000.000 đồng tiền gốc của gói vay ngày 07/12/2023; số tiền lãi của khoản vay 1 đến ngày 08/01/2024 đủ tổng 36 triệu đồng tiền lãi và số tiền gốc 20.000.000 đồng của khoản vay thứ nhất (120 triệu) sau khi đã trừ đi các chi phí mà anh P đã thay thế, sửa chữa một số đồ gia dụng cho gia đình H, tuy anh P không nhớ cụ thể từng khoản nhưng anh P và H đã tính toán và thống nhất chuyển số tiền đầy đủ như nêu trên. Như vậy tính đến ngày 09/01/2024 anh Lê Sỹ P còn vay của H 01 khoản tiền là 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng).
Anh Lê Sỹ P đóng tiền lãi của các khoản vay cho Lê Thị H bằng hình thức chuyển khoản qua số tài khoản M 0964.662.894 và A, tất cả đều mang tên Lê Sỹ P.
Đối với khoản vay 10.000.000 đồng của anh P: Tiền lãi theo thỏa thuận trong 32 ngày là 1.020.000 đồng (116,34%/năm), tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 175.342 đ, thu lợi bất chính là 844.658 đ. Tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo đã thu của anh P là 844.658 đ.
Tổng số tiền H đã cho anh P vay là 180.000.000 đ với mức lãi suất đã thu từ 109,5% đến 146,5%. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 38.580.000 đ, tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 6.980.820 đ, thu lời bất chính là 31.599.180 đ. Số tiền thu lời bất chính thực tế đã thu của anh P là 31.239.180 đ.
2. Anh Trần Văn T1, sinh năm 1984, trú tại khu E, TT. T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Lần 1. Vào ngày 30/11/2023, anh T1 đến nhà hỏi vay H số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng). Thoả thuận, thống nhất lãi 3000đ/1 triệu/ngày. Sau đó, H yêu cầu anh T1 viết 01 (một) “Giấy vay tiền” và giữ lại rồi đưa tiền cho anh T1. Đến ngày 06/01/2024 anh T1 chuyển khoản từ số tài khoản ngân hàng M1 của anh T1, số tài khoản 58196397979 đến số tài khoản 3511333368999 ngân hàng A của H số tiền 6.250.000đ và xin khất số tiền lãi còn lại. Tính đến ngày 09/01/2024 thì số tiền lãi mà anh T1 phải trả cho Lê Thị H là 15.990.000 đồng (Mười lăm triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng)
Đối với khoản vay 130.000.000 đồng của anh T1: Tiền lãi theo thỏa thuận trong 41 ngày là 15.990.000 đồng (109,5%/năm), tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 2.920.547 đ, thu lợi bất chính là 13.069.453 đ. Tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo đã thu của anh P là 3.329.453 đ.
- Lần 2: Ngày 24/12/2023, anh T1 vay số tiền 180.000.000đ của Lê Thị H lãi xuất 3000/1triệu/1ngày. Đến ngày 03/01/2024, anh T1 chuyển khoản trả cho Lê Thị H số tiền 10.000.000đ tiền gốc thời điểm này khoản vay chưa hết hạn nên số tiền lãi mà anh T1 phải trả cho Lê Thị H theo thỏa thuận là 5.940.000 đồng (Năm triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Từ ngày 03/01/2024, anh T1 còn nợ lại Lê Thị H số tiền là 170.000.000đ. Đến ngày 09/01/2024 số tiền lãi mà anh T1 phải đóng cho H theo thỏa thuận là 3.060.000₫ (Ba triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng).
Đối với khoản vay 180.000.000 đồng của anh T1 (từ ngày 24/12/2023 đến ngày 03/01/2024): Tiền lãi theo thỏa thuận trong 11 ngày là 5.940.000 đồng (109,5%/năm), tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 1.084.931 đ, thu lợi bất chính là 4.855.069 đ. Bị cáo chưa thu tiền lãi của anh T1 đối với khoản vay này.
Đối với khoản vay còn nợ lại 170.000.000 đồng của anh T1 (từ ngày 03/01/2024 đến ngày 09/01/2024): Tiền lãi theo thỏa thuận trong 06 ngày là 3.060.000 đồng (109,5%/năm), tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 558.904 đ, thu lợi bất chính là 2.501.096 đ. Bị cáo chưa thu tiền lãi của anh T1 đối với khoản vay này.
Tổng số tiền H đã cho anh T1 vay là 310.000.000 đ với mức lãi suất 109,5%. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 24.990.000 đ, tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định 4.564.382 đ, thu lợi bất chính là 20.425.618 đ. Số tiền thu lợi bất chính thực tế đã thu của anh T1 là 3.329.543 đ.
Như vậy, tổng số tiền gốc Lê Thị H cho anh Lê Sỹ P và Trần Văn T1 vay là 490.000.000 đồng với lãi suất từ 109,5%-146,5%/năm. Tiền lãi theo thỏa thuận là 63.570.000 đồng, tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 11.545.202 đồng ( thực tế bị cáo đã thu của người vay được 9.901.367 đ), thu lợi bất chính là 52.024.798 đồng.
* Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng:
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã tiến hành sao kê các tài khoản ngân hàng gồm: Tại ngân hàng A tiến hành sao kê các tài khoản số: 3511333368999, mang tên Lê Thị H và số tài khoản 3511205290740 mang tên Lê Sỹ P; tại ngân hàng M tiến hành sao kê tài khoản ngân hàng số 58196397979 mang tên Trần Văn T1. Kết quả sao kê phù hợp lời khai của bị cáo Lê Thị H và những người liên quan gồm Lê Sỹ P, Trần Văn T1.
* Tài liệu, vật chứng thu giữ: Không.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS- P2 ngày 26/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê Thị H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử,
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt:
+ Áp dụng khoản 1, 3 Điều 201; Điều 35; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị H từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian đã bị tạm giữ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cho bị cáo.
Đề nghị hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
Đề nghị không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Về áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Truy thu của bị cáo Lê Thị H số tiền 9.901.367 đồng (tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của người vay) sung Ngân sách Nhà nước.
+ Truy thu số tiền nợ gốc mà bị cáo đã thu hồi được của người vay nhưng không cho vay quay vòng lại là 40.000.000 đ sung Ngân sách Nhà nước.
+ Truy thu của anh Lê Sỹ P số tiền gốc chưa trả là 100.000.000 đ sung Ngân sách Nhà nước.
+ Truy thu của anh Trần Văn T1 số tiền gốc chưa trả là 300.000.000 ₫ sung Ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tranh luận; Lời nói sau cùng bị cáo nhận tội và có ý kiến xin được giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai người làm chứng; kết quả sao kê tài khoản ngân hàng; Dữ liệu tin nhắn; biên bản khám xét; vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến ngày 09/01/2024, Lê Thị H đã cho anh Lê Sỹ P và anh Trần Văn T1 vay tổng số tiền là 490.000.000 đồng, với mức lãi suất đã thu từ 109,5% - 146,5%/năm. (cao gấp 5,475 đến 7,325 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự). Số tiền lãi theo thỏa thuận là 63.570.000 đồng, tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 11.545.202 đồng, thu lợi bất chính là 52.024.798 đồng.
Bị cáo Lê Thị H có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, thu lợi bất chính với số tiền trên 30.000.000 đồng nhưng dưới 100.000.000 đ. Do đó, hành vi của bị cáo H đã đủ cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức được rằng việc cho người khác vay tiền với mức lãi suất cao (trên 100%/năm) là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì mục đích lợi nhuận bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước. Do vậy, cần phải xử lý vụ án nghiêm minh nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và đã tự nguyện ra đầu thú tại cơ quan Công an, bị cáo có bố là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tự nguyện trả lại toàn bộ số tiền lãi vượt quá quy định cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và được họ xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy:
Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồng thời có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, vì vậy xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo bằng hình phạt cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giám sát, giáo dục như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, là phù hợp. Như vậy, cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.
Đối với thời gian bị cáo đã bị tạm giữ sẽ được quy đổi và trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, xét bị cáo hiện là lao động tự do, thu nhập không ổn định, nên chỉ áp dụng ở mức khởi điểm.
Về khấu trừ thu nhập: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, đã bị phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp tư pháp:
[7.1] Đối với số tiền gốc, bị cáo sử dụng cho vay lãi cao, nhằm hưởng lợi bất chính. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội, nên cần phải truy thu sung vào ngân sách nhà nước. Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Tổng cộng số tiền nợ gốc bị cáo H đã thu lại được từ người vay là 90.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã sử dụng quay vòng cho vay lại số tiền 50.000.000 đ. Như vậy, cần phải truy thu từ bị cáo H số tiền 40.000.000 đồng. Đối với số tiền nợ gốc mà người vay chưa trả cho bị cáo, cần truy thu số tiền này từ người vay, để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định, cụ thể truy thu từ anh Lê Sỹ P số tiền 100.000.000 đ và truy thu của anh Trần Văn T1 số tiền 300.000.000 đ.
[7.2] Đối với khoản tiền lãi bị cáo thu vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, mà bị cáo đã thu thực tế của người vay, đây là tiền bị cáo thu lãi suất trái pháp luật của người vay, nên cần buộc bị cáo phải trả lại cho người vay. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo đã trả lại toàn bộ cho người vay, người vay công nhận và không có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7.3] Đối với số tiền lãi 9.901.367 đ (làm tròn là 9.901.000 đ) thực tế bị cáo đã thu từ người vay tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/năm), đây là tiền bị cáo hưởng lợi do phạm tội mà có, cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Về vật chứng vụ án và tài liệu, đồ vật thu giữ: Không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 201; Điều 35; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 292, khoản 1, 4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”,
- Xử phạt bị cáo Lê Thị H 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 16/01/2024 là 06 (sáu) ngày, quy đổi thành 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải cấp hành 08 (tám) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Giao bị cáo Lê Thị H cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Lê Thị H.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị H 30.000.000 đ (ba mươi triệu đồng), sung vào ngân sách nhà nước.
2. Về biện pháp tư pháp:
- Truy thu của bị cáo Lê Thị H số tiền 49.901.000 đ (bốn mươi chín triệu chín trăm linh một nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước (trong đó gồm 40.000.000 đ tiền gốc và 9.901.000 đ tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của người vay).
- Truy thu số tiền nợ gốc chưa trả của người vay (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), sung vào ngân sách nhà nước, cụ thể:
+ Truy thu anh Lê Sỹ P 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng);
+ Truy thu anh Trần Văn T1 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng);
3. Về xử lý vật chứng: Không xem xét.
4. Về án phí: Bị cáo Lê Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Công |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA Số: 16/2024/ TB-TA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc. Thọ Xuân, ngày 17 tháng 7 năm 2024 |
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các Điều 45, 260, 261 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét thấy bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2024/HS – ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa có lỗi cần được sửa chữa bổ sung như sau:
Về nội dung tại dòng thứ 4 từ dưới lên trang 7 của bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “hình phạt tù tính từ ngày 26/5/2024"
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “hình phạt tù tính từ ngày 25/6/2024".
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Công |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: dfhdf
