Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS - ST

Ngày 24/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Quyến

Bà Nguyễn Thị Vĩnh .

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST - HS theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST - HS ngày 10/4/2024, đối với :

Bị cáo: Nguyễn Thị H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;

Sinh ngày 21/3/1975 tại xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Không có; mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1948; chồng: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1965 (ông Q được nhà nước tặng huân chương chiến sỹ vẻ vang); Có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1996;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 06/02/2024 đến nay.

(Có mặt tại phiên tòa)

Người liên quan:

Chị Bùi Thị Thương, sinh năm 2000,

Nơi cư trú: Thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị H có mở cửa hàng bán tạp hóa tại nhà và không đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực cho vay tín dụng. H và chị Bùi Thị T1 là người cùng thôn, có quan hệ quen biết. Do cần tiền vốn kinh doanh nhập hàng quần áo nên ngày 06/12/2022, chị T1 đến nhà gặp H đặt vấn đề vay số tiền 60.000.000 đồng. H khai lúc này sẵn có một khoản tiền vốn từ việc kinh doanh, chưa sử dụng đến nên nảy sinh ý định cho chị T1 vay tiền với mức lãi suất cao. Cùng ngày H và chị T1 lập giấy vay tiền, ghi rõ: số tiền cho vay là 60.000.000 đồng mức lãi suất thỏa thuận là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày. Như vậy, mức lãi suất cho vay tương đương với 9.000.000 đồng/01 tháng và tương ứng với lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Điều 468 Bộ luật Dân sự. Sau khi giao nhận tiền, H và chị T1 thỏa thuận bằng lời nói thống nhất: mỗi tháng trả lãi một lần vào ngày mùng 06 hằng tháng, không hẹn ngày trả tiền gốc. Thực tế từ ngày 06/01/2023 đến ngày 06/6/2023, chị T1 đã 06 lần trả tiền lãi cho H, mỗi lần trả 9.000.000 đồng với tổng số tiền là 54.000.000 đồng, đều trả trực tiếp bằng tiền mặt. Đến ngày 06/6/2023, chị T1 cũng đã trả cho H số tiền vay gốc là 60.000.000 đồng và kết thúc khoản vay.

Qua công tác nghiệp vụ, ngày 05/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã triệu tập Nguyễn Thị H đến làm việc đồng thời thi hành lệnh khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị H tại thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Kết quả khám xét đã thu 01 giấy vay tiền viết tay tại ngăn tủ gỗ kệ ti vi ở gian phòng khách. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 02/3/2024, Nguyễn Thị H đã tự nguyện thỏa thuận trả lại chị Bùi Thị Thương số tiền thu lợi bất chính 48.016.438 đồng.

Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo; Cáo trạng số 40/CT- VKSĐH ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo về tội: “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đề nghị HĐXX kết tội bị cáo theo toàn bộ cáo trạng đã truy tố, đồng thời áp dụng khoản 1, 3 Điều 201, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 50 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo phạt bị cáo từ 55.000.000 – 60.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

Truy thu số tiền toàn bộ số tiền gốc bị cáo cho vay và đã thu lại và tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất của bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu đồng thời đề nghị xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cụ thể:

Trong khoảng thời gian từ ngày 06/12/2022 đến ngày 06/6/2023, Nguyễn Thị H đã cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với chị Bùi Thị T1 với số tiền gốc là 60.000.000 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 182,5%/năm vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%) đến 9,125 lần. Tổng số tiền lãi đã thu được là 54.000.000 đồng, trong đó, số tiền lãi được thu theo quy định của pháp luật là 5.983.562 đồng, số tiền thu lời bất chính là 48.016.438 đồng. Ngày 02/3/2024, Nguyễn Thị H đã tự nguyện thỏa thuận trả lại chị Bùi Thị Thương số tiền thu lợi bất chính 48.016.438 đồng.

Bị cáo xác định cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là đúng pháp luật vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không có ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị.

Khi nói lời sau cùng bị cáo H trình bày đến nay bị cáo biết việc mình làm là sai, là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1] Về hành vi quyết định tố tụng:

Các tài liệu chứng chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ xác định có tội, căn cứ xác định vô tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với cáo trạng số 40/CT - VKSĐH ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố; Biên bản khám xét do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ lập hồi 16 giờ ngày 05/02/2024 tại nơi ở của Nguyễn Thị H; Giấy vay tiền lập ngày 06/12/2022 giữa chị Bùi Thị T1 và Nguyễn Thị H (bút lục số 22); Lời khai của người liên quan chị Bùi Thị T1 và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 06/12/2022 đến ngày 06/6/2023, Nguyễn Thị H đã có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với chị Bùi Thị T1 với số tiền gốc là 60.000.000 đồng với mức lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương 182,5%/năm vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%) đến 9,125 lần. Tổng số tiền lãi đã thu được là 54.000.000 đồng, trong đó, số tiền lãi được thu theo quy định của pháp luật là 5.983.562 đồng, số tiền thu lời bất chính là 48.016.438 đồng.

Hành vi của Nguyễn Thị H đã phạm vào tội “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

[3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người vay tiền. Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử và áp dụng một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo có chồng là người có công với nhà nước nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Do vậy không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự cho bị cáo cải tạo tại địa phương và áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo H như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Đông Hưng tại phiên tòa là phù hợp quy định của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi nhưng đã bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền, việc phạm tội không liên quan đến nghề nghiệp của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp:

[6.1] Số tiền bị cáo H đã thu lời bất chính – Tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà H đã thu của chị T1 bị cáo đã tự nguyện hoàn trả cho chị T1 số tiền 48.016.000 đồng bị cáo đã giao chị T1 đã nhận đủ 48.016.000 đồng vào ngày 2/4/2024 nay chị T1 không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết

[6.2] Đối với các khoản tiền gốc là 60.000.000 đồng và khoản tiền lãi được phép thu theo quy định của Bộ luật dân sự là 5.983.562 đồng chị T1 đã trả cho bị cáo đây chính là số tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội cần truy thu để sung quỹ nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H tội: “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 201, Điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự.

    Phạt tiền đối với Nguyễn Thị H tiền 60.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

  3. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự.

    3.1 Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị H bộ số tiền 65.983.562 đồng bao gồm số tiền gốc là 60.000.000 đồng và lãi được phép thu theo quy định của bộ luật dân sự là 5.983.562 đồng, mà chị T1 đã trả cho bị cáo H để sung quỹ nhà nước.

    3.2. Chấp nhận thỏa thuận của bị cáo và chị Bùi Thị T1 về việc bị cáo hoàn trả cho chị T1 số tiền 48.016.000 đồng lãi vượt quá quy định của bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của chị T1 (bị cáo đã giao chị T1 đã nhận đủ số tiền 48.016.000 đồng vào ngày 02/3/2024).

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án ngày 24/4/2024. Những người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - Người có quyền lợi liên quan
  • - Công an huyện Đông Hưng
  • - VKSND huyện Đông Hưng
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình.
  • - Chi cục THADS huyện Đông Hưng
  • - UBND xã Phú Lương, Đông Hưng, Thái Bình,
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS - ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 36/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger