TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22-7-2024
V/v: Ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Duyên; bà Vũ Thị Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngân Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/4/2024 về “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Chẻo Mí S, sinh năm 1996
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Bản P, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu.
- Bị đơn: Anh Vũ Đức T, sinh năm 1991
Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số nhà B, đường N, tổ dân phố V, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*) Tại đơn khởi kiện, lời khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình, thì nguyên đơn là chị Chẻo Mí S trình bày và có yêu cầu cụ thể như sau:
Chị và anh Vũ Đức T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 22/6/2018 tại UBND thị trấn T (nay là thị trấn K), huyện K, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình anh T và sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hòa hợp. Mặc dù gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung ngày càng căng thẳng. Đến tháng 11/2021, chị cùng con thứ 2 về nhà bố mẹ đẻ tại bản Phăng Sô Lin, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó, anh T không hỏi han gì. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Đức T.
Chị và anh T có 02 con chung là Vũ Tiến D, sinh ngày 28/12/2018, con đang ở cùng anh T và Vũ Hải Đ, sinh ngày 07/9/2021, con đang ở chị. Ly hôn, chị đề nghị anh T trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Tiến D; chị trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Hải Đ; không ai phải cấp dưỡng cho con. Chị là lao động tự do, thu nhập khoảng 7.000.000đ/tháng, anh T cũng là lao động tự do, thu nhập thế nào chị không biết.
Chị và anh T tự phân chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chúng tôi không nợ ai tài sản gì, không có tài sản cho người khác vay, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*) Bị đơn là anh Vũ Đức T không trình bày lời khai, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
*) Đại diện chính quyền địa phương nơi anh T cư trú cung cấp nội dung như sau:
Anh Vũ Đức T và chị Chẻo Mí S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình anh T, trong quá trình chung sống giữa anh T và chị S đã xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, chị S đã về nhà bố mẹ đẻ tại huyện S, tỉnh Lai Châu sinh sống, anh T sinh sống cùng bố mẹ đẻ là ông Vũ Văn T1 và bà Nguyễn Thị Y taij tổ dân phố V, thị trấn K. Việc chị S xin ly hôn anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Anh T và chị S có 02 con chung như chị S đã trình bày là đúng, cháu Vũ Tiến D đang ở cùng anh T, cháu Vũ Hải Đ đang ở cùng chị S. Khi ly hôn, việc nuôi con chung đề nghị Tòa án căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh của từng người, phù hợp quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu. Việc cấp dưỡng cho con do anh T và chị S quyết định. Về tài sản chung của anh T và chị S do hai người tự giải quyết, vợ chồng không nợ gì đối với các tổ chức, đoàn thể tại địa phương.
*) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến tại phiên tòa giải quyết vụ án dân sự:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Chẻo Mí S được ly hôn anh Vũ Đức T.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Chẻo Mí S trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Vũ Hải Đ, sinh ngày 07/9/2021; giao cho anh Vũ Đức T trự tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Vũ Tiến D, sinh ngày 28/12/2018; Không ai phải cấp dưỡng cho con. Các đương sự có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
- Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
- Chị S phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự để trình bày lời khai, tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bị đơn là anh Vũ Đức T không trình bày lời khai, vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa. Nguyên đơn là chị Chẻo Mí S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự: Tòa án xét xử trong trường hợp vắng mặt các đương sự.
- [2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Chẻo Mí S và anh Vũ Đức T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hòa hợp. Mặc dù gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung ngày càng căng thẳng. Đến tháng 11/2021, chị S cùng con thứ 2 về nhà bố mẹ đẻ tại bản Phăng Sô Lin, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó, anh T không hỏi han gì. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị S và anh T ngày càng căng thẳng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho chị Chẻo Mí S được ly hôn anh Vũ Đức T là phù hợp quy định của pháp luật.
- [3] Về nuôi con chung: Chị S và anh T có 02 con chung là Vũ Tiến D, sinh ngày 28/12/2018, con đang ở cùng anh T và Vũ Hải Đ, sinh ngày 07/9/2021, con đang ở chị. Ly hôn, chị S đề nghị anh T trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Tiến D; chị S trực tiếp nuôi dưỡng con Vũ Hải Đ; không ai phải cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử thấy: Chị S và anh T đều có việc làm, có thu nhập, có chỗ ở và được sự hỗ trợ của gia đình trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc con, các con đang sinh sống và học tập ổn định. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con nên cần giao cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Vũ Hải Đ; giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Vũ Tiến D là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
- [4] Về tài sản chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, anh T chưa có lời khai về tài sản nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
- [5] Về án phí: Chị S phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
- [6] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Căn cứ nhận xét trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, 203, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Chẻo Mí S được ly hôn anh Vũ Đức T.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Chẻo Mí S trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Vũ Hải Đ, sinh ngày 07/9/2021; giao cho anh Vũ Đức T trự tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Vũ Tiến D, sinh ngày 28/12/2018. Không đặt ra giải quyết việc cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí: Chị Chẻo Mí S phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng chị S đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0002097 ngày 09/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình thành án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chẻo Mí S - Vũ Đức T
