Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 36/2024/DS-ST

Ngày: 23-7-2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Thạch MuNi
    • Bà Diệp Huyền Thảo
  • Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà - Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên toà: Bà Bà Lê Thị Thanh Xuân – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 14/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-DS, ngày 27 tháng 6 năm 2024, Thông báo số 227/TB-TA ngày 11/7/2024 và Thông báo số 229/TB-TA ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Thạch C, sinh năm: 1961. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt có lý do)

Người đại diện hợp pháp của ông Thạch C: Ông Trần Kiến Q, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 04/01/2024) (có mặt)

Bị đơn: Ông Thạch K, sinh năm sinh năm 1944. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (chết)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:

  • Bà Thạch Thị Ti V, sinh năm: 1978. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (vắng mặt có lý do)
  • Bà Thạch Thị Sa N, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt có lý do)
  • Ông Thạch Đ, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt có lý do)
  • Ông Thạch Đ1, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt có lý do)
  • Bà Thạch Thị P, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt)

Người đại diện hợp pháp của bà Thạch Thị Ti V, bà Thạch Thị Sa N, ông Thạch Đ, ông Thạch Đ1: Ông Trần Thanh T, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo các văn bản ủy quyền ngày 30/11/2022 và 25/9/2023)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Sơn Thị Đ2, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
  • Ông Thạch K, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
  • Bà Thạch Thị Sa Q1, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
  • Bà Thạch Thị P, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)
  • Ông Trần Thanh T, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)
  • Bà Thạch Thị Ti V, sinh năm: 1978. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (vắng mặt có lý do)
  • Bà Thạch Thị Sa N, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh(vắng mặt có lý do)
  • Ông Thạch Đ, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt có lý do)
  • Ông Thạch Đ1, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt có lý do)
  • Ông Trần Tuấn V1, sinh năm: 2000. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (vắng mặt có lý do)

Người đại diện hợp pháp của bà Thạch Thị Ti V, bà Thạch Thị Sa N, ông Thạch Đ, ông Thạch Đ1, ông Trần Tuấn V1: Ông Trần Thanh T, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo các văn bản ủy quyền ngày 10/11/2022 và 25/9/2023)

  • UBND huyện C, tỉnh Trà Vinh. Địa chỉ: Khóm D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T. Địa chỉ: Số D đường M, khóm C, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Ông Trần Kiến Q – là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Thạch C trình bày:

Ông Thạch C có thửa đất số 141, diện tích 3.679,7m² và thửa đất 140, diện tích 5.861,8m² cùng tờ bản đồ số 35, tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/07/2017 cho ông Thạch C. Hai thửa đất trên của ông Thạch C giáp ranh với thửa đất 132, tờ bản đồ số 3 diện tích 3.590m², đất tọa lạc tại ấp C, xã P được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho hộ ông Thạch K ngày 18/6/1996. Trong quá trình sử dụng đất các bên xảy ra tranh chấp.

Nay ông Thạch C yêu cầu ông Thạch K phải trả lại cho ông Thạch C phần diện tích theo kết quả khảo sát là 193,8m² thuộc hai thửa đất số 140 và 141, tờ bản đồ 35 đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Đối với các tài sản công trình kiến trúc có trên đất như 01 cái ống bộng bằng nhựa P2 thì ông Thạch C yêu cầu được tiếp tục sử dụng để dẫn nước từ sông vào đất của gia đình ông. Các cây trồng như tre, tầm vong là do phía bị đơn trồng thì ông C yêu cầu họ chặt bỏ trả đất cho ông C, ông C không hỗ trợ hay bồi thường gì cả. Đối với các cây trồng còn lại như dừa, khế thì của ông C trồng nên ông C yêu cầu được tiếp tục sử dụng. Trong trường hợp Tòa án xử không chấp nhận yêu cầu của ông C mà giao phần diện tích đất tranh chấp cho bị đơn sử dụng thì ông C đồng ý tự chặt bỏ tất cả các cây dừa và khế do ông C trồng mà không yêu cầu bồi thường gì cả.

* Ông Trần Thanh T là người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch K và là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Thạch K có thửa đất 132, tờ bản đồ số 3 diện tích 3.590m², đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho hộ ông Thạch K ngày 18/6/1996. Từ trước đến nay gia đình ông Thạch K đã sử dụng đúng ranh đất, đúng diện tích đất mà ông K được cấp giấy nên nay những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông K không đồng ý trả lại phần diện tích đất theo kết quả khảo sát là 193,8m² theo yêu cầu khởi kiện của ông Thạch C.

Thửa đất số 132 là ông Thạch K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước, sau đó ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau nhưng thực tế không có sự chứng kiến giáp ranh của ông Thạch K. Gia đình tôi chỉ ý kiến yêu cầu Tòa án xử đúng diện tích thửa 132 đã cấp cho hộ ông K. Đối với diện tích đất thuộc thửa 132 do gia đình ông Thạch K đã hiến cho Nhà nước thì thống nhất sẽ trừ ra.

Trong trường hợp Tòa án xử án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C thì ông yêu cầu như sau: Đối với các cây tầm vong và tre thì do gia đình ông trồng và sử dụng từ trước đến giờ, nay ông yêu cầu ông C phải trả lại giá trị các cây trồng trên cho ông theo giá Hội đồng định giá đã định. Đối với các cây trồng còn lại như dừa, khế thì do phía ông C trồng và sử dụng, ông không có yêu cầu gì.

Trong trường hợp Tòa án xử không chấp nhận yêu cầu của ông C, phần diện tích đất tranh chấp theo kết quả thẩm định khảo sát thuộc về gia đình ông thì ông yêu cầu được sử dụng tất cả các loại cây trồng trên mà không bồi thường hay trả giá trị cây trồng gì lại cho ông C vì các cây trồng như dừa khế là của ông C trồng nhưng không có giá trị sử dụng vì dừa này không có cho trái. Đối với ống bọng mà gia đình ông C đặt để dẫn nước từ sông vào thì gia đình ông đồng ý để ông C tiếp tục sử dụng, không yêu cầu ông C tháo dỡ di dời đi.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Thạch Thị P thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông Trần Thanh T. Bà là con ruột của ông Thạch K, hộ gia đình bà từ trước đến nay chỉ có các thành viên là: Thạch Kiên, Thạch Thị Đ3, Thạch Thị Sa N, T, Thạch Thị P, Thạch Thị Ti V, Thạch Đ1. Hoàn toàn không có các thành viên: Thạch Thị Đ4, Thạch Thị Vea Sa R, Thạch Sốc K1, Thạch Thị Bo P1 và cũng không biết những người có họ tên này là ai. Tôi cam kết lời trình bày của tôi là đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời khai của tôi.

* Đại diện Ủy ban nhân dan huyện C vắng mặt tại phiên tòa nhưng có văn bản trình bày ý kiến: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Thạch C thửa đất số 140, diện tích 5.861,8m², thửa đất số 141, diện tích 3.679,7 m² cùng tờ bản đồ số 35, đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo tài liệu đo đạc 2005) và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Thạch K, thửa đất số 132, diện tích 3.590m², tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo tài liệu đo đạc 1991) về trình tự, thủ tục là đúng theo quy định của pháp luật về đất đai.

* Đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có văn bản trình bày ý kiến: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện C cấp cho hộ ông Thạch K ngày 18/6/1996 theo tư liệu 1191 là chưa đo đạc chính xác (xây dựng bản đồ địa chính chính quy sẽ được kiểm đạc lại diện tích đất). Đồng thời, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở T cấp cho ông Thạch C ngày 07/7/2017 (thửa đất 140 và thửa 141, cùng tờ bản đồ số 35) đã thực hiện cấp đổi theo bản đồ địa chính chính quy, trên cơ sở ranh giới thửa đất đã được các chủ sử dụng ký xác nhận, có sự thống nhất ranh và ký tên của ông Thạch K, ông Thạch C và các hộ giáp cận (theo Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 29/6/2017). Do đó Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở T cấp cho ông Thạch C ngày 07/7/2017 ranh đất thửa đất được xác lập có sự xác nhận của các hộ giáp cận (cụ thể là ông Thạch K) nên có pháp lý cao hơn về ranh giới, mốc giới thửa đất. Việc chồng lấn diện tích qua lại giữa hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở T cấp cho ông Thạch C ngày 07/7/2017 cấp theo bản đồ địa chính chính quy, còn thửa đất số 132 theo tư liệu năm 1991 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Thạch K là chưa được cấp đổi sang tư liệu bản đồ địa chính chính quy, ranh giới, mốc giới thửa đất số 132 cấp giấy chứng nhận cho ông Thạch K có thay đổi đã được xác định lại tại Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 29/6/2017 nên có sự chồng lấn diện tích.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Các bên đương sự tự nguyện thống nhất với kết quả thẩm định, định giá có trong hồ sơ vụ án.

Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý đến thời điểm này thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 147, Điều 157, Điều 161, Điều 165, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 9 Điều 3, Điều 100, Điều 101, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 18, Điều 19 Nghị định 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Điều 12, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận toàn phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thạch C về việc yêu cầu ông Thạch K trả lại diện tích 130,7m² thuộc thửa đất 140, 141 cho ông Thạch C quản lý, sử dụng.
  2. Buộc bị đơn ông Thạch K trả lại diện tích 130,7 m² và tài sản trên đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh thuộc quyền sử dụng của ông Thạch C.

  3. Ghi nhận sự nguyện của nguyên đơn đồng ý trả lại diện tích 28,3m² phần A3 và tài sản trên đất cho gia đình bị đơn sử dụng
  4. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 141 diện tích 3.679,7m² cấp cho ông Thạch C năm 2017.

    Đình chỉ diện tích 34,8m² (phần A) do người địa diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện rút đơn khởi kiện.

Ngoài ra, vị còn đề nghị nghiêm cấm các bên đương sự không được hủy hoại đất, tài sản trên đất và các giao dịch dân sự trên diện tích đất đang tranh chấp để bảo đảm cho việc thi hành án khi án có hiệu lực pháp luật. Buộc các bên đương sự phải chịu chi phí thẩm định, đo đạc, định giá, lệ phí cung cấp thông tin và chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện nguyên đơn ông Thạch C yêu cầu ông Thạch K trả lại phần diện tích đất đã sử dụng lấn chiếm; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong vụ án này và quá trình giải quyết vụ án có căn cứ rõ ràng cần phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sự chồng lấn lẫn nhau nên xác định đây là tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định có căn cứ rõ ràng cần phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sự chồng lấn diện tích lẫn nhau, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 34 và điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015.

[3] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, những người tham gia tố tụng đều có mặt và vắng mặt đều có lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[4] Tại phiên tòa hôm nay người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tự nguyện rút lại một phần đơn khởi kiện đối với diện tích chênh lệch giữa đơn khởi kiện với diện tích sử dụng đất thực đo phần đất tranh chấp thuộc thửa 140, 141 là 34,8m² (do phần A thuộc sông R). Xét thấy việc rút lại đơn khởi kiện của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận đình chỉ giải quyết theo đề nghị của kiểm sát viên.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Giữa ông Thạch C và ông Thạch K quản lý sử dụng thửa 140, 141 và 132 tiếp giáp liền kề với nhau, các bên sử dụng ổn định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ sử dụng đất theo quy định về lĩnh vực đất đai, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi đăng ký quyền sử dụng đất thì các bên được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng theo quy định pháp luật, các bên trực tiếp nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng, đã trực tiếp sử dụng từ trước cho đến nay, không có ai khiếu nại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Theo văn bản số 154/UBND-NC ngày 14/7/2023 của Ủy Ban nhân dân huyện C: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Thạch C thửa đất số 140, diện tích 5.861,8m², thửa đất số 141, diện tích 3.679,7 m² cùng tờ bản đồ số 35, đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo tài liệu đo đạc 2005) và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Thạch K, thửa đất số 132, diện tích 3.590m², tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo tài liệu đo đạc 1991) về trình tự, thủ tục là đúng theo quy định của pháp luật về đất đai.

Tại công văn số 17/CV-CNVPĐKĐĐHCK ngày 20/02/2023 cung cấp kết quả như sau: Theo hiện trạng sử dụng sau khi đã chồng ghép 2 tài liệu đo đạc năm 1991 và tài liệu đo đạc năm 2005:

Phần ký hiệu (A, A1, A2, A3) là phần đất tranh chấp có diện tích 193,8 m²:

  • A diện tích 34,8m² theo TL năm 1991 cấp cho ông Thạch C và TL năm 2005 nằm trong sông R.
  • A1 diện tích 56,5 m² theo TL năm 1991 và năm 2005 cấp cho ông Thạch C
  • A2 diện tích 74,2 m² theo TL năm 1991 và 2005 cấp cho ông Thạch C.
  • A3 diện tích 28,3 m² nhằm chiết thửa 141 theo TL năm 2005 là phần đất do ông Thạch C đứng tên trên GCN so với TL năm 1991 nhằm chiết thửa 132 do ông Thạch K đăng ký kê khai.

Như vậy, theo hiện trạng sử dụng có sự chồng lấn diện tích qua lại giữa thửa đất số 132, tờ bản đồ số 3 diện tích 3.590m² (theo tài liệu đo đạc 1991) của ông Thạch K và thửa đất số 141, diện tích 3.679,7 m² của ông Thạch C (phần A3).

Tại Văn bản số 2498/ STNMT –VPĐKKĐĐ, ngày 11/8/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T trả lời: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cấp cho ông Thạch C và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Thạch K có giá trị pháp lý như nhau. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Sở T cấp cho ông Thạch C trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất, có sự thống nhất ranh đất giữa ông Thạch C và ông Thạch K khi thực hiện hồ sơ biến động đồng thời với chuyển đổi từ tư liệu đo đạc năm 1991 sang tư liệu đo đạc chính quy năm 2005.

Tại Văn bản số 2986/STNMT –VPĐKKĐĐ, ngày 20/9/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T trả lời: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện C cấp cho hộ ông Thạch K ngày 18/6/1996 theo tư liệu 1991 là chưa đo đạc chính xác (xây dựng bản đồ địa chính chính quy sẽ được kiểm đạc lại diện tích đất). Đồng thời, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở T cấp cho ông Thạch C ngày 07/7/2017 (thửa đất 140 và thửa 141, cùng tờ bản đồ số 35) đã thực hiện cấp đổi theo bản đồ địa chính chính quy, trên cơ sở ranh giới thửa đất đã được các chủ sử dụng ký xác nhận, có sự thống nhất ranh và ký tên của ông Thạch K, ông Thạch C và các hộ giáp cận (theo Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 29/6/2017). Do đó Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở T cấp cho ông Thạch C ngày 07/7/2017 ranh đất thửa đất được xác lập có sự xác nhận của các hộ giáp cận (cụ thể là ông Thạch K) nên có pháp lý cao hơn về ranh giới, mốc giới thửa đất. Việc chồng lấn diện tích qua lại giữa hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở T cấp cho ông Thạch C ngày 07/7/2017 cấp theo bản đồ địa chính chính quy, còn thửa đất số 132 theo tư liệu năm 1991 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Thạch K là chưa được cấp đổi sang tư liệu bản đồ địa chính chính quy, ranh giới, mốc giới thửa đất số 132 cấp giấy chứng nhận cho ông Thạch K có thay đổi đã được xác định lại tại Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 29/6/2017 nên có sự chồng lấn diện tích.

Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự thừa nhận việc thẩm định tại chỗ của Tòa án là dựa trên hiện trạng sử dụng đất của các bên. Như nhận định trên thì theo hiện trạng sử dụng có sự chồng lấn diện tích qua lại giữa thửa đất số 132, tờ bản đồ số 3 diện tích 3.590m² (theo tài liệu đo đạc 1991) của ông Thạch K và thửa đất số 141, diện tích 3.679,7 m² của ông Thạch C (phần A3). Từ đó, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thạch C là có cơ sở chấp nhận, công nhận phần đất tranh chấp A1, A2 cho ông Thạch C. Đối với phần A3, tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tự nguyện giao diện tích 28,3 m² (thuộc phần A3) cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn quản lý, sử dụng, xét thấy đây là sự tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Từ đó cho thấy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 141 cho ông Thạch C có sự chồng lên thửa 132 của ông Thạch K diện tích là 28,3m² nên cần thiết phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 141, tờ bản đồ số 3 diện tích 3.679,7m², đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp cho ông Thạch C.

[6] Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/01/2023 thể hiện:

Trên phần đất tranh chấp có: 10 cây dừa từ 03-07 năm tuổi do ông Thạch C trồng và quản lý, sử dụng (trên phần A1,A2); 02 cây dừa từ 07-25 năm tuổi do ông Thạch K trồng và hiện ông Thạch K đang quản lý, sử dụng (trên phần A3); 01 cây khế từ 03-04 năm tuổi do ông Thạch C trồng và ông C quản lý, sử dụng.

Như đã nhận định tại mục [5] công nhận phần đất A1, A2 cho ông Thạch C nên ông Thạch C được tiếp tục quản lý, sử dụng các cây trồng gắn liền trên phần A1, A2; công nhận phần A3 cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn được tiếp tục quản lý, sử dụng các cây trồng gắn liền trên phần A3.

[7] Về chi phí thẩm định, định giá: Số tiền là 4.471.000 đồng. Buộc mỗi bên đương sự phải chịu 50% chi phí thẩm định, định giá.

Do ông Thạch C đã nộp tạm ứng trước nên số tiền thu được từ những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch K sẽ giao trả lại cho ông Thạch C.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch K phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Ông Thạch C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

[9] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với nhận định trên của Tòa án và phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26; 35; 37; 39; 147; 157; 165; 166 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 175 và Điều 176 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 9; 10; 49; 50; 105 và 136 Luật đất đai năm 2003; Các Điều 5; 6; 7; 12; 20; 26; 100; 166; 170; 179 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thạch C.

    Công nhận cho ông Thạch C quản lý sử dụng phần đất tranh chấp 130,7m² (phần A1, A2) thuộc thửa 140, 141, cùng tờ bản đồ số 35, đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  2. Đình chỉ đối với diện tích 34,8m² (do phần A thuộc sông R) chênh lệch so với yêu cầu khởi kiện.
  3. Ghi nhận sự tự nguyện của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, giao diện tích 28,3 m² (phần A3) cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn gồm Thạch Thị Ti V, Thạch Thị Sa N, Thạch Đ, Thạch Đ1, Thạch Thị P1 tiếp tục quản lý, sử dụng.

    (Kèm theo sơ đồ khảo sát hiện trạng khu đất so với tài liệu năm 1991 và 2005 kèm theo Công văn số 306/CV-TV ngày 10/01/2023 của Văn phòng Đ5 – chi nhánh huyện C, tỉnh Trà Vinh)

  4. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 141, tờ bản đồ số 35, đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho ông Thạch C năm 2017.

    Đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp lại quyền sử dụng đất theo hiện trạng sử dụng đất 141, diện tích 3.679,7m², tờ bản đồ số 35, đất tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho ông Thạch C.

  5. Nghiêm cấm các bên đương sự không được đào phá, hủy hoại đất, tài sản trên đất hoặc thực hiện bất cứ giao dịch dân sự phần đất đang tranh chấp để đảm bảo thi hành án dân sự khi án có hiệu lực pháp luật.
  6. Chi phí thẩm định, chi phí định giá: số tiền là 4.471.000đ (Bốn triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).

    Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch K là Thạch Thị Ti V, Thạch Thị Sa N, Thạch Đ, Thạch Đ1, Thạch Thị P1 phải chịu 2.235.500 đồng.

    Buộc ông Thạch C phải chịu 2.235.500 đồng.

    Do ông Thạch C đã nộp tạm ứng trước toàn bộ số tiền 4.471.000 đồng nên số tiền thu được từ những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch K là Thạch Thị Ti V, Thạch Thị Sa N, T, T, Thạch Thị P1 sẽ giao trả lại cho ông Thạch C.

  7. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch K là Thạch Thị Ti V, Thạch Thị Sa N, Thạch Đ, Thạch Đ1, Thạch Thị P1 phải chịuchịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

    Ông Thạch C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Án xét xử công khai, báo cho các đương sự được biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn tại nơi cư trú theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Chi cục THADS tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 36/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger