|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:36/2024/HS-ST
Ngày 22 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Bùi Trung Thành
Ông: Phạm Đức Hoàn
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST -HS ngày 19 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024;
Đối với bị cáo:
Nguyễn Công L; sinh ngày 22/12/1998 tại: Huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Công X; sinh năm 1965; con bà Đào Thị H; sinh năm 1974; Vợ Bùi Thị H1; sinh năm 2001; có 02 con, lớn sinh năm 2019 con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/3/2024 đến ngày 08/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.
* Người làm chứng
- Anh Lê Văn V; sinh năm 1976 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
- Ông Phạm Văn L1; sinh năm 1978 (Vắng mặt)
1
Địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ 00 phút, ngày 01/3/2024, tại khu phố T, thị trấn N, huyện N, Công an tỉnh T phối hợp với lực lượng Hải quan tỉnh, Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đối với Nguyễn Công L, trú tại thôn B, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa có hành vi cất giấu khoảng 200 viên ma túy, loại Methamphetamine. Nguyễn Công L khai mua ma tuý về bán kiếm lời.
Quá trình điều tra Nguyễn Công L khai: Do có quen biết với ông Phạm Văn L1, Nguyễn Công L đi phụ lái xe cho ông L1, lái xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 29C-633.02 kéo theo Rơ móc 29R-038.05 chở hàng hoá là khoáng sản bên nước Lào về Việt Nam thông qua Cửa khẩu quốc tế N2, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 29/02/2024 ông L1 và L lái xe quay trở về Việt Nam. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày khi đang dừng nghỉ ở bãi xe tại khu vực Cửa khẩu bên nước Lào, L đã tình cờ gặp 01 người phụ nữ lạ mặt. Khi gặp nhau, người phụ nữ hỏi L có mua ma tuý loại hồng phiến không, L hỏi bán như thế nào thì người phụ nữ báo giá là 25.000 đồng/01 viên hồng phiến, còn nếu mua một đàn (khoảng 200 viên) thì giá là 4.500.000 đồng, L đồng ý mua một đàn (khoảng 200 viên) với giá 4.500.000 đồng. Người phụ nữ hẹn L khoảng 18 giờ cùng ngày sẽ mang ma tuý sang bên Việt Nam giao cho L. Đến khoảng 18 giờ người phụ nữ đến gần khu vực biên giới Cửa khẩu quốc tế N giao cho L một lọ nhựa bên trong chứa các viên ma tuý, loại hồng phiến, L đưa cho người phụ nữ số tiền 4.500.000 đồng và cất số ma tuý vào trong túi áo khoác rồi quay về xe nghỉ ngơi. Sau đó ông L1 và L lái xe đi về, khoảng 04 giờ ngày 01/3/2024 khi lái xe về đến K, Quốc lộ A, thuộc khu phố T, thị trấn N, huyện N thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản kết luận giám định số 905/KL-KTHS ngày 06/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận.
- - Các viên nén hình trụ tròn màu đỏ của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 17,520g (một bảy phẩy năm hai không gam), loại: Methamphetamine.
- - Các viên nén hình trụ tròn màu xanh của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,213g (không phẩy hai một ba gam), loại: Methamphetamine.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
2
Một phong bì là mẫu vật còn lại sau giám định do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Hoàng Thị N, Lưu Bình N1 và các hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T là vật chứng liên quan đến vụ án, chuyển đến Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc để xét xử và thi hành án.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 màu đen xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Tại bản cáo trạng số:41/CT-VKS-NL ngày 17/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc đã truy tố: Nguyễn Công L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tại phiên tòa hôm nay vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- - Về hình phạt đề nghị: Áp dụng: Điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công L.
Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Công L từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/3/2024.
Do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy đối với; Phong bì được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Nguyễn Trần Đ, Hoàng Thị N, Lưu Bình N1 và các hình con dấu bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine.
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, trong lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra,
3
truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã thể hiện rõ: Vào khoảng 04 giờ 00 phút, ngày 01/3/2024, tại khu phố T, thị trấn N, huyện N, Công an tỉnh T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đối với Nguyễn Công L, trú tại thôn B, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa có hành vi cất giấu khoảng 200 viên ma túy (hồng phiến) mục đích mua về để bán kiếm lời, kết quả giám định có tổng trọng lượng là 17,733gam, loại Methamphetamine. Hành vi của Nguyễn Công L cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo có tính rất nghiêm trọng, bởi lẽ. Chỉ vì lợi ích cá nhân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật để phạm tội. Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn huyện N nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng mua bán, sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Có thể nói ma túy là một tệ nạn đang nhức nhối nhất hiện nay mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã và đang quyết tâm loại trừ ra khỏi đời sống xã hội, vì ma tuý có tác hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà, làm suy thoái về giống nòi, suy đồi về đạo đức, lối sống, ma tuý làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV, do ma tuý mà một loạt các tội phạm khác gia tăng. Bị cáo có đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về mua bán, tàng trữ, sử dụng, lôi kéo người khác (...) đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “Thành khẩn khai báo”, bị cáo có bà nội là mẹ liệt sỹ thuộc gia đình có công với cách mạng, bản thân bị cáo trong hai năm 2022 và năm 2023 đã tham gia ủng hộ quỹ Hội chữ thập đỏ tại địa phương được chính quyền xác nhận, được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Nhân thân bị cáo không có tiền án tiền sự.
4
Với các tình tiết và nhân thân nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải lên cho bị cáo một hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm, để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về xử lý vật chứng:
Phong bì được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Nguyễn Trần Đ, Hoàng Thị N, Lưu Bình N1 và các hình con dấu bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo công việc không ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công L phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Công L.
Tuyên bố: Nguyễn Công L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Công L 09 (chín) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/3/2024.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy phong bì được dán kín niêm phong bởi các chữ ký Nguyễn Trần Đ, Hoàng Thị N, Lưu Bình N1 và các hình con dấu bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine.
Hiện vật chứng, tài sản đang được nhập kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa theo phiếu nhập kho và lệnh nhập kho số NK 2024/041 ngày 18/6/2024.
Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Công L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
5
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Xuân Thành |
6
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Bùi Trng Thành | Phạm Đức Hoàn | Phạm Xuân Thành |
7
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Hình sự về tôi Mua bán trái phép chất ma túy
