|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 23 - 01 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Minh
Ông Bùi Xuân Hưởng
Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thu Hiền – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Hải- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 223/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025; Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 16/2025/QĐ-TA ngày 16/01/2025 với bị cáo:
VÕ HỒNG H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 09 tháng 6
năm 1982 tại thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Đăng ký thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ H, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Thành Đ và bà Vũ Thị B (Đã chết). Bị cáo có chồng là Lê Quang Đ1; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2009; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/10/2024, tạm giam từ ngày 24/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/10/2024, Võ Hồng H đi từ nhà đến thành phố Hà Nội chơi, đến ngày 17/10/2024, Võ Hồng H nảy sinh ý định mua ma túy về để bán kiếm lời nên đã gọi điện thoại cho một người nam giới, không quen biết ở quận Đ, thành phố Hà Nội hỏi mua được 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng tiền ma túy tổng hợp và 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng tiền ma túy Ketamine tại đường T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Sau khi mua được ma túy Võ Hồng H đi về nhà tại thành phố L, tỉnh Lào Cai. Đến khoảng 13 giờ ngày 18/10/2024, có một người nam giới không quen biết, tên H1 nhà ở chung cư N, phường D, thành phố L gọi điện thoại từ số thuê bao 0352854369 đến số điện thoại của Võ Hồng H hỏi mua 02 (hai) viên ma túy kẹo với giá 1.000.000 (Một triệu) đồng, Võ Hồng H đồng ý rồi bảo H1 chuyển tiền đến số tài khoản 19029009072011 mang tên VO HONG HUYEN và qua nhà Võ Hồng H ở số nhà B, đường T để lấy ma túy. Sau đó, Võ Hồng H nhận được số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng từ số tài khoản 3710911373 mang tên LY THỊ CHI. Sau khi nhận được tiền Võ Hồng H lấy 02 viên ma túy kẹo gói vào tờ giấy ăn rồi cất vào túi quần bên phải đang mặc đến để đưa cho H1. Khi Võ Hồng H đang đợi H1 đến thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L phát hiện kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ trên người Võ Hồng H 01 gói giấy bên trong chứa 02 viên nén, Võ Hồng H khai nhận là ma túy kẹo để bán cho H1.
Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L khám xét khẩn cấp nơi ở của Võ Hồng H thu giữ trong túi màu đen có quai đeo để ở kệ để đồ trong phòng ngủ: 01 túi nilon loại có mép miết, bên trong chứa 03 viên nén, thu trong tủ đựng quần áo trong phòng ngủ 01 túi nilon loại có mép miết, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, 01 túi nilon loại có mép miết, bên trong chứa 08 túi nilon nhỏ loại có mép miết, bên trong các túi đều chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, 01 túi nilon loại có mép miết bên trong chứa 46 viên nén, 01 túi nilon loại có mép miết, bên trong chứa 04 viên nén. Võ Hông H2 khai nhận các viên nén là ma túy tổng hợp MDMA và các hạt tinh thể rắn, màu trắng là ma túy Ketamine. Ngoài ra còn tạm giữ của Võ Hồng H 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, màu xám đã qua sử dụng, 01 căn cước công dân mang tên Võ Hồng H.
Quá trình điều tra Võ Hồng H đã nộp lại số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) là số tiền mà Võ Hồng H bán ma túy mà có.
Kết luận giám định số 464/GĐMT ngày 23/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận vật chứng thu giữ của Võ Hồng H ngày 18/10/2024 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L gửi đến giám định: 19,555 (Mười chín phẩy năm trăm năm mươi năm) gam các viên nén là loại ma túy MDMA; 31,303 (Ba mươi mốt phẩy ba trăm linh ba) gam các hạt tinh thể rắn, màu trắng là ma túy Ketamine.
Quá trình điều tra Võ Hồng H khai mua ma tuý MDMA và Ketamine của một người đàn ông không quen biết với giá 35.000.000 đồng mục đích để bán kiếm lời và bị cáo đang mang ma túy đi bán cho người đàn ông tên H1 thì bị bắt giữ.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định.
Cáo trạng số 202/CT-VKS ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Võ Hồng H về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Hồng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm p khoản 2 khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Hồng H từ 13 năm đến 14 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước. Đề nghị xử lý vật chứng vụ án, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 17/10/2024, bị cáo Võ Hồng H đã có hành vi mua 19,555 (Mười chín phẩy năm trăm năm mươi năm) gam các viên nén là loại ma túy MDMA; 31,303 (Ba mươi mốt phẩy ba trăm linh ba) gam các hạt tinh thể rắn, màu trắng là ma túy Ketamine nhằm mục đích để bán kiếm lời và bị cáo đang trên đường đi bán ma tuý thì bị bắt giữ.
Theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 5 Nghị định số 19 ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy đổi 19,555 gam ma túy MDMA so với khối lượng ma túy tối thiểu 30 gam quy định tại khoản 3 Điều 251 = 65,183; quy đổi 31,303 gam ma túy Ketamine so với khối lượng ma túy tối thiểu 100 gam (ma túy khác ở thể rắn) = 31,303. Xác định tổng khối lượng ma túy thu giữ của Võ Hồng H là 96,486 gam. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Võ Hồng H đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với tổng khối lượng ma túy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 96,486 gam, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, mặc dù biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành, cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật, cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo có bố đẻ là ông Võ Thành Đ được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, mẹ đẻ là bà Vũ Thị B được nhà nước tặng thưởng Huy hiệu chiến sỹ T. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có tài sản riêng, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tạm giữ của Võ Hồng H là tiền do bị cáo phạm tội mà có, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xám đã qua sử dụng là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với 17,579 gam MDMA và 29,806 gam Ketamine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 thẻ căn cước công dân mang tên Võ Hồng H cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với người nam giới đã bán ma tuý cho Võ Hồng H ngày 17/10/2024. Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu nào khác để chứng minh nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với người nam giới tên H1 nhà ở chung cư N, phường D, thành phố L mà Võ Hồng H khai nhận là người gọi điện từ số thuê bao 0352854369 hỏi mua 02 viên ma túy kẹo với giá 1.000.000 (Một triệu) đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh nhưng không có ai tên H1 như mô tả của bị cáo, quá trình điều tra đã đề nghị Tập đoàn C1 tra cứu đến nay chưa có kết quả nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định.
Đối với số tài khoản 3710911373 mang tên LY THI CHI đã chuyển số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng đến số tài khoản của bị cáo Võ Hồng H ngày 18/10/2024. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã các định số tài khoản là của chị Lý Thị C, sinh năm 1988, trú tại: Tổ I, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái, do chị C là người làm nghề kinh doanh quán ăn nên mỗi ngày có rất nhiều người chuyển và nhờ chuyển khoản nên chị không nhớ ai là người nhờ chị chuyển khoản đến số tài khoản Võ Hồng H.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Võ Hồng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Võ Hồng H 13 (Mười ba) năm 10 (Mười) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 18/10/2024.
Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng)) sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 0,573 (Không phẩy năm trăm bảy mươi ba) gam MDMA còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư có sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Võ Hồng H tại tổ H, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 18/10/2024".
Tịch thu tiêu hủy 17,006 (Mười bẩy phẩy không trăm linh sáu) gam MDMA và 29,806 gam Ketamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư có sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét chỗ ở của Võ Hồng H tại tổ H, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 18/10/2024".
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 Iphone 12 Pro Max, màu xám có số Emeil: 353854131693338, bên trong có 01 thẻ sim (Điện thoại cũ đã qua sử dụng) của Võ Hồng H
Trả lại 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Võ Hồng H. (Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/12/2024)
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng của Võ Hồng H theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Công an thành phố L tại Kho bạc Nhà nước tỉnh L ngày 27/11/2024.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VÕ HỒNG H
