|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HÓA Bản án số 36/2024/HS-ST Ngày 22 - 7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đức Thuận và bà Bùi Thị Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Doãn Phương Liên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thảo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Sỹ D, sinh ngày: 05 tháng 5 năm 1984 tại: xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: không biết chữ; Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Sỹ T, sinh năm 1958, con bà Lê Thị Q, sinh năm 1960, cả bố và mẹ hiện sinh sống tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con đầu; bị cáo chưa có vợ, chưa có con. Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nữ H, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T.
- Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1965.
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1969.
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1954.
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975.
Địa chỉ: thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt bà H, bà H1, vắng mặt bà Q1, bà B và bà H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 10/12/2023 Công an xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nhận được tin báo của quần chúng nhân dân phát hiện có đối tượng nghi vấn trộm cắp tài sản tại nhà dân thuộc thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Công an xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã yêu cầu đối tượng về trụ sở để làm việc, tại Công an xã đối tượng nghi vấn được xác định là Lê Sỹ D sinh năm 1984 ở thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Đối tượng khai nhận bản thân không có công ăn việc làm ổn định thường đi lang thang với mục đích tìm kiếm những tài sản nhỏ gọn mà người dân không đề phòng, bảo quản để trộm cắp. Ngày 10/12/2023 D đến nhà chị Nguyễn Thị T1 sinh năm 1973 ở thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để trộm cắp tài sản nhưng chưa thực hiện được thì bị quần chúng nhân dân phát hiện nên bỏ chạy ra cánh đồng gần đó rồi chạy về nhà. Quá trình làm việc D khai nhận trước đó đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản của người dân tại thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa tỉnh Thanh Hóa. Xét thấy vụ việc trên không thuộc thẩm quyền nên Công an xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã chuyển toàn bộ hồ sơ và đối tượng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa để xử lý theo thẩm quyền. (BL số: 01, 02.) Quá trình điều tra có đủ cơ sở xác định:
- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 20 giờ 20 phút ngày 29/9/2023 D đi bộ đến nhà bà Nguyễn Thị Q1 sinh năm 1965 ở thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa thì nhìn thấy có một xe mô tô để ở ngoài sân, D đi lại dùng tay cạy cốp xe phát hiện và lấy đi 5.902.000đ (Năm triệu chín trăm lẻ hai nghìn đồng) sau đó đi về nhà và dùng số tiền trên tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 06/11/2023 D đi chơi từ xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa về xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa khi đi qua nhà bà Nguyễn Thị B sinh năm 1969 ở thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa quan sát thấy không có ai ở nhà, D đi lại dùng tay cạy cửa, sau khi cạy được cửa D đi sâu vào trong nhà để tìm kiếm tài sản thì phát hiện có 02 chiếc điện thoại di động loại cảm ứng (01 chiếc điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A5 màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy3 màu tím). D đi lại cầm hai chiếc điện thoại bỏ vào túi quần bên trái sau đó mang về nhà cất giấu.
- Vụ thứ ba: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/11/2023 D đi bộ từ xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đến Bưu điện xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để bắt xe khách đi Hà Nội làm việc, khi đi qua thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện nhà bà Nguyễn Thị H1 sinh năm 1954 ở thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa là nhà D hay vào chơi và hút thuốc lào nên đi vào thì thấy có một xe mô tô đang để ở sân giếng, chìa khoá đang cắm ở ổ khoá xe, D đi lại mở cốp xe ra thì thấy có một túi vải màu hồng, D mở ra thì thấy bên trong có 12.000.000₫ (Mười hai triệu đồng) D lấy hết số tiền trên và đi lên bưu điện xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa bắt xe đi Hà Nội và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
- Vụ thứ tư: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28/11/2023 D đi bộ từ xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa xuống xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để đi chơi, khi đi đến thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nhìn thấy một nhà dân ở phía bên tay trái hướng đi của D (nhà bà Nguyễn Thị H2) đang khoá cửa, biết không có ai ở nhà nên D trèo qua cổng vào trong sân và đi đến hè nhà thì thấy chìa khoá đang để ở cửa sổ, D cầm chìa khoá mở cửa chính đi vào trong nhà và tìm kiếm tài sản, khi đi vào đến gian buồng thì phát hiện ở dưới gối đầu giường có một cái ví màu đen, D đi lại cầm lên mở ví thì phát hiện trong ví có 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) (toàn bộ số tiền trên có mệnh giá 500.000₫) D lấy toàn bộ số tiền trên và đi ra ngoài, khoá cửa lại và trèo qua tường đi bộ về nhà, sau đó D đã sử dụng hết số tiền trên vào mục đích cá nhân. (BL số 75 đến 82)
Ngày 26/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng huyện N, tỉnh Thanh Hóa định giá đối với 01 chiếc điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A5 màu đen đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy3 màu tím đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 04/ĐGTS ngày 29/01/2024 của HĐĐG huyện N, tỉnh Thanh Hóa Kết luận; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galasy A5 màu đen có giá trên thị trường tại thời điểm trộm cắp là 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm ngàn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy3 màu tím có giá trên thị trường tại thời điểm trộm cắp là 1.000.000₫ (Một triệu đồng).
Quá trình điều tra xác định Lê Sỹ D có biểu hiện tâm thần và từng đi điều trị tại Bệnh viện T2. Ngày 18 tháng 3 năm 2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã trưng cầu giám định tâm thần đối với Lê Sỹ D.
Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số: 153/KLGĐ ngày 05/6/2024 của V kết luận: Lê Sỹ D bị chậm phát triển tâm thần nhẹ, kèm tật chứng về tác phong đáng kể, đòi hỏi việc theo dõi hoặc điều trị. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F701.1. Tại thời điểm trên Lê Sỹ D hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
- Theo báo cáo của bà Nguyễn Thị Q1 vào ngày 29/9/2023 bà có đi xuống nhà bố mẹ chồng ở thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa và để xe máy ở ngoài sân, lúc này bà có để số tiền 5.902.000₫ ở trong cốp xe là số tiền bà vừa lĩnh lương hưu về sau đó bà vào nhà đi ngủ. Đến 05 giờ sáng ngày 30/9/2023 bà dậy để lấy xe đi về thì phát hiện cốp xe bị cạy, bà đi lại kiểm tra thấy bị mất số tiền trên, do lo sợ bị chồng mắng nên bà không báo cáo lên Công an xã T. Đến tháng 12/2023 Công an xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa bắt được Lê Sỹ D và có khai ra đã lấy trộm số tiền trên của bà. Nay bà yêu cầu Lê Sỹ D trả lại cho bà số tiền trên và xử lý theo quy định của pháp luật. Hiện bà đã được gia đình Lê Sỹ D đến xin lỗi và trả lại toàn bộ số tiền trên. (BL số: 135 đến 140)
- Theo báo cáo của bà Nguyễn Thị B vào sáng ngày 06/11/2023 sau khi bà đi chợ về bà để 02 chiếc điện thoại di động, 01 cái là điện thoại di động Galaxy A5 màu đen và 01 cái là điện thoại Vsmart Joy3 màu tím ở đầu giường trong nhà sau đó ra đồng để làm việc, đến trưa đi làm về thì phát hiện bị mất 02 chiếc điện thoại nêu trên. Bà nghĩ do tài sản không lớn mà nghi ngờ cho anh em trong nhà làm ảnh hưởng đến tình cảm anh em họ hàng nên bà không báo cáo lên Công an xã, nay Công an bắt được Lê Sỹ D và khai nhận đã lấy 02 chiếc điện thoại nêu trên của bà nay bà yêu cầu D trả lại tài sản cho bà và xử lý theo quy định của pháp luật. Hiện bà đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa trả lại 02 chiếc điện thoại nêu trên. (BL số: 142 đến 146)
- Theo báo cáo của bà Nguyễn Thị H1 vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 22/11/2023 bà để chiếc xe mô tô ở sân gần giếng nước lúc này bà có bỏ 12.000.000₫ vào một túi ni lông sau đó bỏ vào trong một túi vải màu đỏ để vào trong cốp xe và quên không rút chìa khoá xe ra sau đó bà đi ngủ trưa. Đến 18 giờ 30 phút bà đi ra xe lấy tiền để giao dịch thì phát hiện số tiền trên đã bị mất, do không biết là ai lấy nên bà không đến Công an để trình báo. Đến tháng 12 năm 2023 khi Công an bắt được Lê Sỹ D và có khai nhận đã lấy số tiền trên của bà, nay bà yêu cầu Lê Sỹ D phải bồi thường lại cho bà và xử lý theo quy định của pháp luật. Hiện bà đã được gia đình Lê Sỹ D đến xin lỗi và trả lại toàn bộ số tiền trên. (BL số: 148 đến 153)
- Theo báo cáo của bà Nguyễn Thị H2 vào sáng ngày 28/11/2023 do gia đình hàng xóm có tổ chức đám cưới nên bà xin nghỉ làm để đi đám cưới. Đến khoảng 11 giờ 30 phút bà khoá cửa nhà ngoài và dắt chìa khoá ở ô thoáng cửa sổ sau đó bà dắt xe máy ra ngoài và khoá cửa cổng để đi đến Công ty T3 làm việc, đến 17 giờ 30 phút đi làm về thấy cửa cổng vẫn khoá như bình thường, bà đi vào cửa chính thấy vẫn còn khoá và khi nhìn thấy chiếc máy bơm nước đặt không đúng vị trí nên bà linh cảm là có người vào nhà, bà đi lại lấy chìa khoá thì thấy chìa khoá để ở một vị trí khác, bà mở cửa đi vào trong nhà đi lại nơi để tiền thì thấy số tiền 15.000.000₫ đã bị mất. Do nhà hàng xóm có đám cưới sợ ảnh hưởng đến hàng xóm nên bà không báo với Công an. Hiện bà đã được gia đình Lê Sỹ D đến xin lỗi và trả lại toàn bộ số tiền trên. (BL số 155 đến 159)
Đối với 02 chiếc điện thoại di động, sau khi biết Lê Sỹ D trộm cắp tài sản, em gái D là chị Lê Thị Y đã tìm thấy 02 chiếc điện thoại ở trong phòng của D và đã mang đến Công an xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để giao nộp (BL số: 164 đến 166)
* Vật chứng vụ án:
- Vật chúng thu giữ được:
01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A5 màu đen đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joi3 màu tím đã qua sử dụng. Hiện các vật chứng trên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị B (BL số: 74).
* Về trách nhiệm dân sự
Hiện các bị hại bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị Q1 đã được bồi thường và nhận lại tài sản, các bị hại không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSNC ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Sỹ D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật và tuyên phạt bị cáo cụ thể như sau:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s, q, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lê Sỹ D từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng:
02(hai) chiếc điện thoại di động bị cáo chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị B, sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
* Lời bào chữa của bà Nguyễn Thị Nữ H: Người bào chữa hoàn toàn đồng ý với tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét đến khả năng nhận thức của bị cáo vì là người có hạn chế về nhận thức và điều khiển hành vi. Sau khi bị Công an triệu tập đến làm việc, bị cáo đã tự thú các hành vi phạm tội của mình, đã được gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo là người tàn tật, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo nhận tội, không bổ sung lời bào chữa và không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, nhận thấy hành vi của mình là trái quy định của pháp luật, ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong phạm vi Tòa án xét xử đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của Lê Sỹ D:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại. Như vậy, đủ cơ sở chứng minh:
Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 29/9/2023 Lê Sỹ D dùng tay cạy cốp xe máy của bà Nguyễn Thị Q1 khi đang để tại nhà ở thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để chiếm đoạt số tiền 5.902.000đ; đến khoảng 9 giờ 30 phút ngày 06/11/2023 Lê Sỹ D tiếp tục có hành vi cạy cửa nhà bà Nguyễn Thị B ở thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa chiếm đoạt được một chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A5 màu đen trị giá 1.700.000đ và một chiếc điện thoại di động Vsmart Joy 3 màu tím trị giá 1.000.000đ; tiếp đến vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/11/2023, Nguyễn Sỹ D1 có hành vi chiếm đoạt 12.000.000₫ của bà Nguyễn Thị H1 ở thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa khi để tiền trong cốp xe máy để gần giếng nước trong nhà; Đến ngày 28/11/2023 vào khoảng 13 giờ 30 bị cáo có hành vi trèo tường vào nhà bà Nguyễn Thị H2 ở thôn Y, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa chiếm đoạt 15.000.000đ để trong một chiếc ví màu đen để dưới gối đầu giường.
Như vậy trong bốn lần chiếm đoạt tài sản, bị cáo đã chiếm đoạt được 2 chiếc điện thoại di động trị giá 2.700.000₫ và 32.902.000đ tiền mặt. Tổng cộng bị cáo đã chiếm đoạt được số tài sản trị giá 35.602.000₫.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Lê Sỹ D phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người còn trẻ nhưng không chịu tu chí làm ăn, lao động chân chính mà đi trộm cắp tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu cá nhân. Vì vậy cần phải tuyên phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
[4] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Tuy nhiên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự vì trong thời gian ngắn, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 4 lần. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ 2 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Sau khi có ý định vào một nhà dân ở xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để trộm cắp tài sản bị người dân phát hiện, bị cáo đã bỏ chạy được về nhà, sau đó bị cáo đã ra đầu thú và tự thú 4 lần trộm cắp tài sản trước đó; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; đã tác động với gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và bị cáo đã được Trung tâm G kết luận “tại thời điểm phạm tội Lê Sỹ D hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vĩ”. Tại phiên tòa sơ thẩm, người bị hại là bà Nguyễn Thị H1 đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s, q, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tuy nhiên bị cáo có hành vi tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ hai lần trở lên”. Vì vậy cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt đã được thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu và bị hại không có yêu cầu gì khác, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Xử lý vật chứng: Vật chứng vụ án là hai chiếc điện thoại di động bị cáo chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị B đã được thu giữ, sau khi điều tra làm rõ, cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo là người tàn tật, vì vậy miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s, q, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Án phí: miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo và bà H1, vắng mặt bà Q1, bà B và bà H2. Bị cáo và bà H1 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.
Tuyên bố: Lê Sỹ D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt Lê Sỹ D 18(Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Kỳ Anh |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Sỹ D phạm tội trộm cắp tài sản
